Bàn về triết lý giáo dục ở VN (Nguyễn Bình)

Đây là bài do anh Nguyễn Bình (Austin) gửi lên diễn đàn Humboldt. Tôi thấy bài viết khá công phu và thú vị, về vấn đề triết lý giáo dục của Việt Nam, nên post lại đây để tham khảo.

Mạn bàn về Triết Lý Giáo Dục ở VN

 

Cơn suy trầm Giáo Dục

“Cái học ngày nay đã hỏng rồi,

Một người đi học, chín người lo” (Phỏng thơ Trần Tế Xương)

 

Giáo Dục Việt Nam (GDVN) trong những năm gần đây được mô tả và chứng kiến đang ở trong giai đoạn suy trầm (1). Thật ra, suy trầm chỉ là lối nói tu từ vì GDVN, xét về tổng thể, dường như chưa bao giờ có giai đoạn thịnh vượng. Cơn suy trầm của GDVN cho dù có chịu ảnh hưởng ít nhiều của suy trầm kinh tế đang diễn ra trên thế giới, nhưng nó hoàn toàn mang tính chất định xứ, nội tại và đã có trước những cơn suy trầm kinh tế toàn cầu. Nghĩa là, nó chỉ diễn ra ở VN và do chính bản thân nền GDVN tạo nên mà không do một yếu tố ngoại lai nào ( chẳng hạn sự toàn cầu hóa, vấn đề tài năng, chất xám…bị thu hút bởi sự cạnh tranh toàn cầu). Vì thế, những người có trách nhiệm điều hành nền GD phải tìm ra những vấn đề và phương cách giải quyết từ chính bản thân của nền GD trong toàn cảnh xã hội, chính trị của nước nhà. Ở các nước bị suy trầm, chính phủ tung ra những “gói kích thích” (stimulus package) để kích động sự vận hành của bộ máy kinh tế bị trì trệ. Về GD, ở VN dường như cũng đã có những ‘gói kích cầu” mang tính nhất thời, vụn vặt và đối phó được hô hào (!). Nếu ngành Vật lý hiện đại được ví như một con chim mà đôi cánh của nó là lý thuyết Lượng tử và Tương đối, thì đôi cánh của một quốc gia nói chung, và của nền GD nói riêng chính là cơ chế (bao gồm chính sách, bộ máy và cách thức vận hành,..) và con người (nhân sự và các vấn đề liên quan). Những vấn đề của GDVN thực sự nằm sâu trong đôi cánh đó, vì thế những lối “kích cầu” hời hợt bên ngoài chưa mang lại, hay đúng hơn là không thể mang đến sự khởi sắc cho nền GDVN. Trong sự truy nguyên, các nhà điều hành về GD vẫn loay hoay với câu hỏi: cơ chế hay con người. Thật ra, con người tạo nên cơ chế rồi chính cơ chế định hình con người. Cái này hư, cái kia sẽ hỏng và ngược lại. Nghĩa là cả hệ thống- con người và cơ chế- cần phải tốt. Thay đổi tận gốc rễ một hệ thống không phải là điều dễ dàng và vì vậy cần một sự đột phá và chọn điểm đột phá chiến lược. Gần đây, các nhà GD dường như đang hướng về một lý do được xem như nguồn cội của mọi vấn đề trong GD:  sự thiếu vắng một Triết Lý Giáo Dục (TLGD) và nếu có thì TLGD ấy đã không còn thích hợp?

TLGD trong những nhận định của các học gỉa và các cấp chính quyền ở VN

 

Dưới đây là những quan điểm, nhận định của các học gỉa ở VN về TLGD. Vì không có điều kiện nên những phát biểu này được lấy từ nguồn internet có ghi đường dẫn.

-“…. Cần làm rõ khái niệm “triết lý GD” trước khi bắt tay vào đổi mới quá trình GD. “Triết lý GD” của Đảng là phát triển con người toàn diện. Nhưng thực tế hiện nay giáo dục của chúng ta còn thiên lệch, thiếu cân đối giữa các mặt. GDVN phải đề cao năng lực sáng tạo, tư duy hiện đạilàm chủ công nghệ thông tin của người học.” GS. Phan Trọng Luận, ĐHSP Hà Nội (2).

-….”để làm rõ khái niệm “triết lý GD” trước hết phải bàn đến sứ mệnh GD là gì? Quan điểm giáo dục của Đảng cần quan tâm là phát triển GD-ĐT là quốc sách hàng đầu – đây cũng chính là cơ sở để ngành GD dựa vào và phát triển đi lên. Phương châm phát triển GD trong thời kỳ đổi mới là Chuẩn hóa – Hiện đại hóa – Dân chủ hóa. Trong đó bao hàm nội dung, phương pháp và cả cơ sở vật chất của giáo dục”. GS.TS Phạm Minh Thuyết (2) .

– … Triết lý GD là: ý nghĩa sâu xa đã được trải nghiệm; tư tưởng GD (cả đào tạo); lý luận chung về GD; Đường lối, chủ trương, chính sách phát triển GD; phương châm, nguyên lý chỉ đạo…Có thể khẳng định từ trước tới nay, Việt Nam có triết lý giáo dục như: tư tưởng, ý tưởng về giáo dục được thể nghiệm, trải nghiệm, đúc rút thành kinh nghiệm sống, rồi lại đem ra thực hành…  đề xuất triết lý giáo dục là “Giáo dục giá trị bản thân. GS.VS Phạm Minh Hạc (2)

– ….Cần phải có triết lý giáo dục trong điều kiện xây dựng nền giáo dục tri thức. Do vậy, muốn làm tốt, cần thực hiện tốt lời dạy của Hồ Chí Minh: Học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ càng thấy cần phải học thêm. GS. TS Phạm Tất Dong (2)

– Cần phải làm rõ các vấn đề: Xây dựng triết lý giáo dục bắt đầu từ đâu? Việt Nam đã có những điều kiện gì? Triết lý giáo dục Việt Nam phải bao gồm những yêu cầu gì? …việc xây dựng triết lý giáo dục Việt Nam phải  hiểu được 5 vấn đề, đó là: Hiểu con người Việt Nam; Hiểu lịch sử giáo dục của đất nước; Hiểu xu thế thế giới; Hiểu những yêu cầu của đất nước, Đảng, nhân dân với giáo dục; Hiểu được những yếu tố tác động tới giáo dục Việt Nam….” triết lý giáo dục Việt Nam được đúc kết trong 5 từ ” Ái, Tôn, Vị, Trọng, Khai”, tức là triết lý giáo dục cần quán triệt: Chủ nghĩa yêu nước; thượng tôn dân tộc; tôn trọng thực tại khách quan; trọng nguyên khí; khai phóng dân tộc, mở ra với thế giới”. GS.TS Vũ Minh Giang (2)

– ” Tuy nhiên, để bắt đầu, cũng có thể nói một cách ngắn gọn: Chúng ta tiến hành nền giáo dục này để làm gì? Để nhằm tạo ra những con người như thế nào? Suốt nhiều chục năm, chúng ta đã tập trung toàn lực, cao độ, nhằm đào tạo ra con người biết vâng lời, thuộc lòng một số chân lý có sẵn, và từ đó người được học suốt đời cứ thế mà làm theo cho đúng…Vấn đề bây giờ là có dám, có quyết phá vỡ cái triết lý đó đi không. Thiết lập lại một nền giáo dục khác hẳn nhằm tạo nên những con người tự do, dám và biết tự mình đi tìm lấy chân lý, sống và làm việc theo chân lý mình đã chọn, chịu trách nhiệm về sự lựa chọn ấy. Sự thống nhất của xã hội sẽ là sự thống nhất của những con người tự do, đầy trách nhiệm với chính mình và với xã hội, đầy tự chủ và sáng tạo…” Nhà văn Nguyên Ngọc (3):

– …Thế nào là triết lý giáo dục ? Đó là hệ thống những tư tưởng và quan niệm chi phối toàn bộ hoạt động của một bộ máy giáo dục nào đó. Thực ra, suy cho cùng, triết lý giáo dục của một xã hội phụ thuộc vào nền triết lý xã hội của xã hội ấy, hay nói rõ hơn, phụ thuộc vào quan niệm triết lý về phương thức tổ chức Tìm kiếm triết lý giáo dục Việt Nam thời kỳ phát triển mới. Trần Hữu Quang (4)

– “Triết lý giáo dục” hiểu theo nghĩa hẹp là lý luận triết học về giáo dục, một môn học nghiên cứu những quy luật chung nhất của giáo dục, hay nói cách khác là một môn học nêu ra chủ trương tổng quát và có hệ thống về lý luận triết học giáo dục….

Khái niệm “triết lý giáo dục” cần phải hiểu theo nghĩa rộng, đó là quan điểm, chủ trương, phương hướng giáo dục phù hợp với thực tế tình trạng kinh tế, chế độ chính trị, đời sống xã hội và trình độ văn hoá của thời đại đó..”. PGS Đặng Đức An (ĐH SP Hà Nội)(5)

Trong quá trình phát triển Đại học Duy Tân xác định triết lý giáo dục của trường là: “Đào tạo gắn liền với nghiên cứu thực nghiệm lấy nhân văn làm nền tảng”. Đây là “kim chỉ nam” cho toàn bộ các quyết định của lãnh đạo, là định hướng cho mọi hoạt động của toàn trường cũng như của từng cán bộ, giảng viên, chuyên viên, nhân viên, sinh viên và học sinh trong trường.(6)

– Triết lý được hiểu là hệ thống lý luận triết học, phản ánh quan niệm của con người về những vấn đề nhân sinh, xã hội, được cụ thể hoá bằng những tư tưởng, đường lối, phương pháp và hành động thực tiễn. Xã hội phát triển với nhiều biến động bất ngờ thì việc đi tìm một triết lý giáo dục phản ánh đúng chiến lược phát triển giáo dục trong thời kì mới là mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học và quản lý giáo dục….
Giáo dục phải đi trước sự phát triển, triết lý giáo dục cần được nghiên cứu, bàn bạc, xây dựng thống nhất để trả lời thoả đáng yêu cầu về “giáo dục là gì? Giáo dục cho ai? Và giáo dục như thế nào” trong tổng thể hoàn thiện các mặt đời sống xã hội. …Triết lý giáo dục phải có tính định hướng để đổi mới nền giáo dục, hiện đại hóa quá trình giáo dục các cấp học, bậc học một cách cụ thể và hiệu quả.
Đỗ Tiến Sỹ (GD&TĐ): “Triết lý giáo dục dạy và học tích cực” (7)

– “Nhiều người thường đề cập việc phải xem lại triết lý giáo dục Việt Nam. Thậm chí có ý kiến cho rằng Việt Nam chưa có triết lý giáo dục. Thật ra, triết lý dạy làm người đã trở thành nền tảng sâu sắc, lâu đời trong đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam.”…. “Triết lý giáo dục của chúng ta là dạy làm người, chúng ta không hiểu thấu đáo nó nên đã làm trật hướng. Để làm tốt được điều đó, chúng ta phải chăm lo cho đời sống của giáo viên trước đã ”. Hùynh Công Minh, nguyên GĐ sở  GD TPHCM (8).

– “Chúng ta đang phê phán giá trị cũ nhưng đến bây giờ vẫn chưa có giá trị mới. Triết lý chính là dạy các em tự học làm người: người công dân và người trí thức.” PGS TS Phan Thanh Bình, GĐ ĐHQG TPHCM (8).

…….

Chú ý: Chữ in đậm là ý muốn nhấn mạnh của người viết.

Sự đa dạng và đặc biệt là sự không đồng thuận về một định nghĩa chung của TLGD trong những phát biểu, quan điểm của các học gỉa và các cấp chính quyền cho thấy một vấn đề: chúng ta chưa có một định nghĩa chung về TLGD và điều này cũng có nghĩa là chúng ta chưa thực sự có một TLGD VN theo đúng nghĩa (?)

Triết lý Giáo Dục là gì?

 

Dường như đã có sự nhầm lẫn nào đó trong quan điểm của một số học gỉa trong nước về khái niệm TLGD và triết lý “học/dạy làm người “ theo nghĩa đối nhân, xử thế chung chung. Chẳng hạn như “tiên học lễ, hậu học văn”, dạy/học để trở thành công dân tốt… hay với “ triết lý giảng dạy môn học”  trong các bộ môn, chẳng hạn như “làm chủ công nghệ thông tin”…  Những nhận định được kể ở trên chưa thực sự là những phân tích sâu sắc và toàn diện về mọi khía cạnh của một TLGD mang tầm vóc quốc gia. Điều này có thể được giải thích bởi sự kiện là chúng ta chưa có những học gỉa chuyên nghiên cứu về lĩnh vực này ngay cả trong những cơ quan có trách nhiệm về phần việc đó.

Sau đây là một số những định nghĩa về TLGD.

–          The Oxford handbook of Philosophy of education (Harvey Siegel, Oxford University Press, 2009)

Philosophy of education is that branch of philosophy that addresses philosophical questions concerning the nature, aims, and problems of education. As a branch of practical philosophy, its practionners look both inward to the parent discipline of philosophy and outward to educational practice, as well as to developmental psychology, cognitive science more generally, sociology, and other relevant disciplines.

The most basic problem of philosophy of education is that concerning aims: what are the proper aims and guiding ideals of education? A related question concerns evaluation: what are the appropriate criteria for evaluating educational efforts, institutions, practices, and products?Other important problems involve the authority of the state and of teachers, and the rights of students and parents; the character of purported educational ideals such as critical thinking, and of purported undesirable phenomena such as indoctrination;the best way to understand and conduct moral education; a range of questions concerning teaching, learning, and curriculum;and may other.

 

Tạm dịch: Triết Lý GD là gì?

Triết Lý Giáo Dục là một ngành của triết học có nhiệm vụ đưa ra những câu hỏi về khía cạnh triết học có liên quan đến bản chất, mục đích và các vấn đề của giáo dục.Với tư cách là một ngành triết học ứng dụng, những người thực hành ngành học này sẽ  tìm kiếm cơ sở triết học nơi sự thực hành trong giáo dục, nơi ngành tâm lý học phát triển, trong khoa học về nhận thức và tổng qúat hơn là trong xã hội học và những ngành học thích hợp khác.

Vấn đề cơ bản nhất của triết lý giáo dục có liên quan đến mục tiêu: mục tiêu đúng đắn và những lý tưởng chủ đạo của giáo dục là gì? Một câu hỏi có liên quan đến sự đánh gía: những tiêu chuẩn nào là thích hợp cho việc đánh gía những nỗ lực giáo dục, những định chế, sự thực hành và sản phẩm? Những vấn đề quan trọng khác có liên quan đến thẩm quyền của nhà nước cũng như của người thầy, quyền của học sinh và phụ huynh; những đặc điểm của những lý tưởng giáo dục đã được xác nhận [có gía trị] chẳng hạn như óc phê phán, những hiện tượng ngoài ý muốn khác được công nhận [là không gía trị] chẳng hạn như sự giáo điều hóa; cách thức tốt nhất  để hiểu và dẫn dắt giáo dục về đạo đức; một loạt những câu hỏi có liên quan đến giảng dạy, học tập và chương trình…

 

–          Theo Wikipedia (9) :

Philosophy of education can refer to either the academic field of applied philosophy or to one of any educational philosophies that promote a specific type or vision of education.

As an academic field, philosophy of education is “the philosophical study of education and its problems…its central subject matter is education, and its methods are those of philosophy“. “The philosophy of education may be either the philosophy of the process of education or the philosophy of the discipline of education. That is, it may be part of the discipline in the sense of being concerned with the aims, forms, methods, or results of the process of educating or being educated; or it may be metadisciplinary in the sense of being concerned with the concepts, aims, and methods of the discipline.” As such, it is both part of the field of education and a field of applied philosophy, drawing from fields of metaphysics, epistemology, axiology and the philosophical approaches (speculative, prescriptive, and/or analytic) to address questions in and about pedagogy, education policy, and curriculum, as well as the process of learning, to name a few. For example, it might study what constitutes upbringing and education, the values and norms revealed through upbringing and educational practices, the limits and legitimization of education as an academic discipline, and the relation between educational theory and practice.

Tạm dịch: Theo định nghĩa thì Triết lý Giáo Dục được dùng để nói đến một lãnh vực mang tính học thuật của ngành triết học áp dụng, hay là tập hợp đặc biệt của các niềm tin (xuất phát từ sự tìm kiếm những tri thức về cuộc sống và vũ trụ để dẫn dắt hành vi của con người) nhằm thúc đẩy một kiểu hình riêng biệt hay tầm nhìn trong giáo dục.

(a) Dưới khía cạnh là một lĩnh vực học thuật thì triết lý giáo dục là “một ngành nghiên cứu mang tính triết học về giáo dục và những vấn đề của nó…trong đó đối tượng chính của nó là giáo dục và phương pháp nghiên cứu là triết học”,

(b) Theo ý nghĩa thứ hai thì “triết lý giáo dục là triết lý về qúa trình giáo dục hay triết lý về các môn học trong giáo dục. Nghĩa là, nó có thể là một phần của môn học theo nghĩa có liên hệ đến mục đích, hình thức, phương pháp hay những kết qủa của qúa trình giáo dục cũng như của đối tượng được giáo dục; nhưng nó cũng có thể có tính chất vượt ra khỏi môn học theo nghĩa có liên hệ đến khái niệm, mục đích và phương pháp của môn học đó. Như thế nó thuộc cả hai lĩnh vực: giáo dục và triết học áp dụng được dẫn xuất từ siêu hình học, nhận thức luận, đạo đức và thẩm mỹ học cùng với phương pháp tiếp cận của triết học (suy diễn, mô tả và/hay phân tích) nhằm nêu ra những vấn đề trong /về sư phạm, các chính sách về GD, thiết kế chương trình….cũng như trong qúa trình học.Chẳng hạn như nó có thể nghiên cứu nội dung của việc giáo huấn, gía trị và những chuẩn mực thông qua việc giáo huấn, những giới hạn và sự hợp pháp hóa giáo dục với tư cách là một ngành học thuật và mối liên hệ giữa lý thuyết về giáo dục với thực hành”

Như vậy, TLGD không đơn thuần là những triết lý làm người, làm công dân, làm một người chỉ giỏi về kiến thức, có óc sáng tạo…mà nó bao hàm mọi khía cạnh liên hệ với GD về mặt triết lý. Nó cũng bao hàm mục tiêu-những lý tưởng chủ đạo-của một nền GD. Người ta nói đến những mục tiêu về nhận thức luận (epistemic aims): kiến thức (knowledge), sự thật (truth) và biện minh( justification) và xa hơn là Sự hiểu biết (understanding), kỹ năng nhận thức và  bí quyết ( skills and know-how), tinh thần phê phán ( critical thinking)…về mục tiêu luân lý và chính trị ( moral and political aims): sự tự chủ (autonomy), sự nảy nở (flourishing), khả năng hợp tác ( cooperative capacity) và  năng lực dân chủ ( democratic competence), sự bình đẳng giáo dục dựa vào tài năng (meritocratic educational equality)…Ngoài ra còn có những mục tiêu về kỹ năng nhận thức, lý luận trong việc dạy/học: thuyết phục, thỏa thuận (Persuasion, Agreement), sự thật và sự khách quan ( truth and objectivity), sự gian dối ( fallacies), sự không gíao điều hóa ( indoctrination)…

Trong phạm vi bài này chúng ta không đi sâu vào những khía cạnh liên quan đến TLGD như được nêu trên. Điều quan trọng là, vì những vấn đề cơ bản của TLGD có liên quan đến mục tiêu của nền GD. Do đó, những yếu tố kể trên đều tiềm ẩn trong mục tiêu GD. Nói cách khác, mục tiêu của một nền GD phản ảnh TLGD của nền GD đó. Đại đa số quốc gia/tiểu bang đều có luật GD trong đó các mục tiêu được đề ra với những biện pháp thực hiện và qua đó một TLGD được phản ảnh. Chẳng hạn như ở Pháp, chúng ta tìm thấy những nguyên tắc chính trong hệ thống GD phổ thông như sau (10)

Les grands principes du système éducatif

Le système d’enseignement français est fondé sur de grands principes, certains inspirés de la Révolution de 1789, de lois votées entre 1881 et 1889 et sous les IVe et Ve Républiques ainsi que de la Constitution du 4 octobre 1958 : “l’organisation de l’enseignement public obligatoire gratuit et laïc à tous les degrés est un devoir de l’État “.

La liberté de l’enseignement, La gratuité, La neutralité, La laïcité, L’obligation scolaire

Tạm dịch: Những nguyên tắc chính của hệ thống giáo dục

Hệ thống giáo dục của Pháp được đặt cơ sở trên những nguyên tắc chính, một số được gợi ý từ cuộc Cách mạng 1789, từ các luật được phê chuẩn từ 1881 đến 1889 và dưới nền Cộng Hòa IV và V cũng như từ Hiến Pháp 4/10/1958:  “tổ chức giáo dục công cộng, bắt buộc, miễn phí và thế tục hóa ở mọi cấp là một nhiệm vụ cuả quốc gia”.

“Tự do trong giảng dạy, Miễn phí, Trung tính, Thế tục, Nghĩa vụ đi học” là những lý tưởng chủ đạo của nền GDPT ở Pháp.

Có một triết lý GD ở VN hay không?

GDVN (từ khi có một hệ thống quản lý chính thức) là một nền GD non trẻ so với nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nhưng có phải vì thế mà nền GD thiếu vắng một TLGD? Ở miền nam trước năm 1975(11), người ta ghi nhận: Ba nguyên tắc “nhân bản” (humanistic), “dân tộc” (nationalistic), và “khai phóng” (liberal) là những nguyên tắc làm nền tảng cho triết lý giáo dục của Việt Nam Cộng hòa, được ghi cụ thể trong tài liệu Những nguyên tắc căn bản do Bộ Quốc gia Giáo dục ấn hành năm 1959 và sau đó trong Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa (1967).

  1. Giáo dục Việt Nam là giáo dục nhân bản. Triết lý nhân bản chủ trương con người có địa vị quan trọng trong thế gian này; lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người trong cuộc đời này làm căn bản; xem con người như một cứu cánh chứ không phải như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng phái, hay tổ chức nào khác. Triết lý nhân bản chấp nhận có sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng sự khác biệt đó để đánh giá con người, và không chấp nhận sự kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc… Với triết lý nhân bản, mọi người có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội đồng đều về giáo dục.
  2. Giáo dục Việt Nam là giáo dục dân tộc. Giáo dục tôn trọng giá trị truyền thống của dân tộc trong mọi sinh hoạt liên hệ tới gia đình, nghề nghiệp, và quốc gia. Giáo dục phải bảo tồn và phát huy được những tinh hoa hay những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.
  3. Giáo dục Việt Nam là giáo dục khai phóng. Tinh thần dân tộc không nhất thiết phải bảo thủ, không nhất thiết phải đóng cửa. Ngược lại, giáo dục phải mở rộng, tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần vào việc hiện đại hóa quốc gia và xã hội, làm cho xã hội tiến bộ tiếp cận với văn minh thế giới.

Sau khi đất nước thống nhất, luật GDVN gần đây nhất được xây dựng với những nội dung như sau:

– Chương 1, điều 2: Mục tiêu giáo dục.

Mục tiêu GD là đào tạo con người Việt nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

– Chương 1, điều 3, mục 1: Tính chất nguyên lý giáo dục

Nền giáo dục Việt nam là nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.

(“Trích Luật Giáo dục VN, 2005)

Như vậy, có thể nói mà không sợ qúa lời rằng chúng ta đã và đang có một TLGD. Nó có thể được tóm gọn trong tính chất nguyên lý GD: có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng.


Một Triết Lý Giáo Dục mới?


 

“Trăm dâu đổ đầu tằm”

Có một TLGD tương đối rõ ràng và minh bạch, nhưng những vấn nạn GD vẫn đang tiếp diễn và có xu hướng ngày càng trầm trọng. Theo logic, chúng ta phải đặt lại vấn đề: cái “hỏng” của hệ thống GD hiện nay không phải do sự thiếu vắng một TLGD, mà nó nằm ở chỗ TLGD hiện hành không còn thích hợp và điều quan trọng hơn hết là phải tìm ra sự “lạc hậu” của TLGD này nằm ở đâu.   Đôi lời nhận xét :

–          dường như có sự  trùng lặp giữa cụm từ “có tính nhân dân” và “dân tộc”? Hay là, trong khái niệm của chủ nghĩa xã hội thì “nhân dân” khác với “dân tộc”? Dù sao, đây là một yếu tố cơ bản để giữ được bản sắc dân tộc không thể thiếu trong TLGD VN.

–          Khoa học, hiện đại là hai yếu tố quan trọng không thể thiếu được trong bất kỳ TLGD của một quốc gia nào trên thế giới.

–          Cụm từ “chủ nghĩa Mac-Lê Nin và tư tưởng HCM làm nền tảng.” cho thấy nền tảng triết học trong TLGD VN. Đó chính là triết học Mac_LêNin và tư tưởng HCM. Từ đó sản phẩm của nền GDVN chính là mẫu người XHCN: phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (chương 1, điều 2, luật GD 2005). Xin mở ngoặc một chút ở đây. Những ai đã từng làm việc với phấn trắng, bảng đen trong nước (khối Phổ thông) ắt hẳn phải nhớ điều này: Trong phần mở đầu của một giáo án bao gồm mục đích, yêu cầu của bài giảng, người thầy không bao giờ được phép quên ghi vào đó một câu vô nghĩa, máy móc sau: truyền thụ nhân sinh quan và thế giới quan XHCN (!) cho học sinh.

Tôi không dám lạm bàn về triết học ML và tư tưởng HCM. Nhưng điều mà tôi có thể kết luận ở đây là: nếu TLGD là nguyên ủy của sự suy trầm trong GDVN thì trong 3 yếu tố của TLGDVN, chính cái yếu tố ” Chủ nghĩa ML và tư tưởng HCM “ là nguồn cội của những suy trầm về GD. Bởi vì những lý tưởng chủ đạo về một mô hình con người XHCN có phần siêu thực (phát triển toàn diện), mơ hồ (đạo đức  XHCN? Tri thức về điều gì? ) và nhất là không đi sát với xu hướng tiến triển của xã hội loài người hiện nay. Chúng ta cũng không thấy những mục tiêu này đề cập  đến việc xây dựng cho học sinh khả năng nhận thức, tôn trọng sự thật khách quan, tinh thần phê phán, không gỉa dối, chống sự giáo điều hóa… Từ đó, cũng có thể thấy rằng vấn đề của GD hiện nay, nếu được qui về nguyên nhân là do thiếu một TLGD, thì theo tôi, đó chỉ là một cách nói tránh né điều “nhạy cảm”. Các học gỉa trong nước hiện nay, vì lý do nào đó, hoặc không biết hoặc cố ý, đã không dám gọi đúng tên, nêu đúng “tội”. Học cách nói của GS Hoàng Tụy, xin cho tôi nói thẳng rằng cái “hỏng” của GDVN hiện nay có nguyên nhân sâu xa từ việc : giáo điều hóa” qúa mức cần thiết về CNXH trong đó có vai trò của ĐCS, mà quên đi việc hình thành một nhân cách theo nghĩa khai phóng cho học sinh. Chính vì thế cụm tính từ bổ sung- XHCN- trong mọi đường lối chính sách hiện hành trong nước, đặc biệt là GD đã góp phần làm nhiễu loạn hiện trạng GD. Vì vậy, nếu cần phải có một TLGD mới, thì điều cốt yếu là phải “chỉnh trang” cụm từ này cho thích hợp với hoàn cảnh của đất nước và xu hướng toàn cầu cũng như bổ sung những điều cần thiết khác. Điều này, nhiều bậc trưởng thượng tâm huyết đã lên tiếng. Tôi không dám nghĩ xa hơn về triển vọng thay đổi hoàn toàn trong TLGD hiện hành nhưng vẫn kỳ vọng về một chút thay đổi nào đó để làm ấm lòng những người đang trăn trở với GDVN. Ắt hẳn họ đang có cảm giác,

Đường đi không gío lòng sao lạnh?” (Q D),

Bình Nguyễn

PS: Vì có trùng tên, họ và mẫu tự đầu tiên trong chữ lót với một huynh trưởng trong diễn đàn này nên để tránh làm kinh động bậc huynh trưởng ấy, xin gọi tôi là Nguyễn Austin nếu qúi vị có điều gì cần chỉ giáo. Mọi sự qúa lời, xin lượng thứ. Trân trọng.

Chú thích:

(1) http://dvt.vn/20110827104813582p108c109/gs-hoang-tuy-len-tieng-ve-su-can-thiet-phai-cai-cach-ngay-giao-duc-theo-dung-nghi-quyet-cua-dang.htm

http://dvt.vn/2011083011076106p108c109/gs-hoang-tuy-len-tieng-ve-su-can-thiet-phai-cai-cach-ngay-giao-duc-theo-dung-nghi-quyet-cua-dang-tiep-theo-va-het.htm

(2) http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30257&cn_id=476407

(3) http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/Thoi-su-suy-nghi/222471/Lai-chuyen-triet-ly-giao-duc.html

(4) http://www.diendan.org/viet-nam/ban-ve-triet-ly-giao-duc/

(5) http://vietbao.vn/Giao-duc/Triet-ly-giao-duc-co-tu-bao-gio/20657176/203/

(6) http://forum.duytan.edu.vn/sites/index.aspx?p=forum_thread&thread=27199#p0

(7) http://educare.edu.vn/tintuc/Home/ViewDetail/1559

(8) http://tuoitre.vn/chinh-tri-xa-hoi/452157/day-lam-nguoi-hay-day-chu-truoc.html

http://www.voh.com.vn/news/NewsDetail.aspx?id=34777

(9) http://en.wikipedia.org/wiki/Philosophy_of_education

(10) http://www.education.gouv.fr/cid162/les-grands-principes.html

(11) http://vi.wikipedia.org/wiki/

This entry was posted in Tổng Hợp Về Giáo dục. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s