Nguyên Tắc Dạy Học theo J. A. Komensky (1)

CÁC YÊU CẦU CHUNG CỦA DẠY VÀ HỌC THEO J. A. KOMENSKY
(Tóm lược từ cuốn “Khoa Sư Phạm Toàn Diện” của Komensky)

Nhận xét về phương pháp giảng dạy của thời đại mình, Komensky cho rằng “quá bấp bênh” khiến cho không ai dám khẳng định được chất lượng dạy học sẽ ra sao. Vì thế, Komensky đề nghị “chúng ta phải xét xem phải chăng chúng ta có thể đặt nghệ thuật giảng dạy tri thức trên một cơ sở hoàn toàn vững chắc khiến cho tiến bộ chắc chắn sẽ được bảo đảm.” [16, 4]

Phương pháp luận mà Komensky đề xuất là “đi theo phương pháp của tự nhiên” [16, 5]. Như thế ông quan sát tự nhiên, rút ra bài học và đưa ra các áp dụng vào cho dạy học. Komensky khẳng định rằng, “nếu chúng ta biết được các sự kiện mà từ đó chúng ta rút ra các nguyên tắc tạo thành cơ sở cho các qui luật của chúng ta, chúng ta có thể hi vọng các kết luận của chúng ta sẽ càng hiển nhiên hơn.” [16, 6]

Từ các quan sát của mình đối với cây cỏ, thiên nhiên, loài vật .v.v. Komensky đề xuất 9 nguyên tắc sau để làm cho việc dạy học chắc chắn đạt hiệu quả như mong muốn.

Nguyên tắc thứ nhất: Tôn trọng thời gian thích hợp [16, 10]:
1.    Việc giáo dục con người phải được bắt đầu vào tuổi xuân xanh, nghĩa là tuổi thiếu niên.
2.    Các giờ buổi sáng là các giờ thích hợp nhất cho việc học.
3.    Tất cả các môn cần học phải được sắp xếp sao cho hợp với lứa tuổi của học sinh, để không bắt chúng phải học điều gì vượt quá tầm hiểu biết của chúng.

Nguyên tắc thứ hai: Chuẩn bị chất liệu trước khi bắt đầu tạo hình thức [16, 11]:
1.    Có sẵn sàng các sách và tài liệu cần thiết để giảng dạy.
2.    Dạy hiểu biết về các sự vật trước, dạy cách diễn tả bằng ngôn ngữ sau.
3.    Không bắt đầu học một ngôn ngữ bằng ngữ pháp, mà phải học từ các tác giả thích hợp.
4.    Dạy hiểu biết về các sự vật trước khi dạy cách phối hợp giữa chúng.
5.    Các ví dụ phải dẫn trước các qui luật.

Nguyên tắc thứ ba: Chọn chủ thể thích hợp, tác động một cách tích hợp đến chủ thể để biến đổi chủ thể nên thích hợp [16, 20]:
1.    Mọi học sinh đến trường phải kiên trì trong việc học tập.
2.    Trước khi dạy bất cứ môn học chuyên môn nào, phải chuẩn bị trí khôn học sinh để dễ tiếp thu môn học ấy.
3.    Mọi chướng ngại vật phải được gỡ ra khỏi ‘con đường trường học’.

Nguyên tắc thứ bốn: Đi từng bước theo một trình tự hợp lý, có tính kế thừa giữa các nội dung học tập [16, 31]:
1.    Dạy từ dễ đến khó.
2.    Sắp xếp trình tự các môn học cách hợp lý.
3.    Mỗi thời điểm chỉ học một môn.

Nguyên tắc thứ năm: Sự phát triển phải diễn ra từ bên trong [16, 37]:
1.    Dạy theo trình tự: hiểu – ghi nhớ/nhớ lại – trình bày bằng ngôn ngữ.
2.    Giáo viên phải vừa giỏi về phương pháp khoa học vừa giỏi về thực hành.

Nguyên tắc thứ sáu: Đi từ phổ quát (cái chung) đến đặc thù (cái riêng) [16, 45]:
1.    Bắt đầu mỗi môn học với các yếu tố đơn giản nhất của nó, để học sinh có được ý tưởng tổng quát về nó.
2.    Tiếp đến, phát triển sự hiểu biết của học sinh xa hơn bằng cách trình bày các qui luật và các ví dụ.
3.    Sau đó nâng lên mức hiểu biết một cách hệ thống về môn học kèm theo các luật trừ (ngoại lệ) và các hình thức bất qui tắc
4.    Sau cùng, dạy về các bình luận, đánh giá nhưng chỉ khi tuyệt đối cần thiết.

Nguyên tắc thứ bảy: Không nhảy vọt, nhưng tiến từng bước vững chắc [16, 50]:
1.    Mọi môn học phải được cẩn thận tổ chức theo từng mức độ thích hợp trong mọi lớp học. Các môn học trước có thể chuẩn bị và soi sáng cho các môn học tiếp theo.
2.    Thời gian phải được phân chia kỹ lưỡng, sao cho mỗi năm, mỗi tháng, mỗi ngày và mỗi giờ được xác định một nhiệm vụ rõ ràng.
3.    Việc phân chia thời gian và môn học phải được hết sức trung thành tuân giữ, để không sai sót một điều gì.

Nguyên tắc thứ tám: Không bỏ giữa chừng [16, 56]:
1.    Ai được gửi đến trường thì phải được giữ lại ở trường cho tới khi đạt đủ sự hiểu biết, đức hạnh và tôn giáo.
2.    Trường học phải được đặt ở một nơi yên tĩnh, cách xa chốn ồn ào đô hội.
3.    Bất cứ điều gì phải làm theo chương trình học thì phải được làm đến nơi đến chốn, không nửa vời.
4.    Không vì bất cứ lý do gì mà cho phép học sinh nghỉ học hay trốn học.

Nguyên tắc thứ chín: Loại trừ các trở ngại và nguy hại [16, 62]:
1.    Học sinh chỉ nhận những sách vở thích hợp với lớp của các em.
2.    Sách vở phải đạt được các chuẩn mực về tri thức, đạo đức và tâm linh.
3.    Trường học cách xa khu vực xấu, học sinh không có dịp chung đụng với bạn bè xấu.

Ghi chú:
Cách ghi [X, Y] là sách đã dẫn, chương X, đoạn văn thứ Y.

Ví dụ, [16, 52] là chương 16, đoạn văn có số thứ tự 52

P. Đỗ Mạnh Cường

This entry was posted in Tổng Hợp Về Giáo dục. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s