Quan điểm hệ thống khi thiết kế chương trình đào tạo nghề

CÁC MÔ HÌNH ĐỂ THIẾT KẾ CHƯƠNG TRÌNH HỌC
Theo Gay (1980) có bốn mô hình có thể dùng để khái niệm hóa quá trình lập kế hoạch chương trình: mô hình lí thuyết, mô hình kinh nghiệm, mô hình thực dụng, mô hình kỹ thuật.

Mô hình lí thuyết lấy tính lôgíc làm nền tảng cho việc quyết định chương trình học. Nội dung học tập được định hình theo các nguyên tắc rõ ràng, cụ thể. Việc lập kế hoạch chương trình ở đây phải xuất phát từ những đặc tính chung vượt trên các hoàn cảnh cụ thể trong nhà trường (Gay, 1980).

Mô hình kinh nghiệm dựa trên định hướng lấy người học làm trọng tâm và hướng tới hoạt động nhiều hơn. Mô hình này chú trọng tới các mục tiêu hướng về người học và quá trình hỗ trợ người học với tư cách là cá nhân và là thành viên trong xã hội.

Mô hình thực dụng gắn kế hoạch của chương trình với hoàn cảnh cụ thể của địa phương và quá trình lên kế hoạch được cụ thể hóa cho phù hợp hoàn cảnh riêng của trường học.

Mô hình công nghệ coi việc học tập như một “hệ thống”. Hệ thống này “có thể được xây dựng từ một số thành phần nhất định và có thể dự đoán trước hoạt động của hệ thống. Hiệu quả của hệ thống có thể được cải thiện bằng việc áp dụng các “nguyên tắc quản lí tốt”. Một số thành phần của mô hình này là: đánh giá nhu cầu, định rõ các mục tiêu, lựa chọn nội dung phù hợp với mục tiêu, và thiết lập các công cụ đánh giá.

Để xây dựng chương trình, người ta có thể sử dụng một mô hình cụ thể và cũng có thể sử dụng kết hợp tất cả các mô hình trên với một mô hình nào đó làm nền tảng.

QUAN ĐIỂM HỆ THỐNG VỀ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH
Nếu xem mô hình kĩ thuật  như  một khung hữu ích cho việc xây dựng chương trình, thì điều đầu tiên phải tìm hiểu là cấu trúc của một hệ thống cũng như các khái niệm của hệ thống giáo dục và phân biệt giữa chương trình học với hệ thống dạy học.

CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG
Thế nào là một hệ thống đích thực? Có thể hiểu hệ thống là một tập hợp các yếu tố tương tác lẫn nhau để đạt đến mục đích chung. Có hệ thống tĩnh và hệ thống động. Sự tương tác giữa các thành phần trong hệ thống có thể tạo ra những thay đổi theo thời gian của bản thân hệ thống. Những sự thay đổi này làm cho hệ thống trở nên năng động hơn.

Về cơ bản, một hệ thống bao gồm bốn hệ thống con: hệ thống sản xuất (production subsystem), hệ thống thích ứng (adaptive subsystem), hệ thống duy trì (maintenance subsystem) và hệ thống quản lý (managerial subsystem).

Hệ thống lạnh trong lớp học (hình 1) có thể dùng để minh họa cho các khái niệm hệ thống căn bản này. Trước hết, cảm biến nhiệt độ (adaptive) phát hiện ra sự sai lệch giữa nhiệt độ thực tế với nhiệt độ mong muốn và qua hệ thống dây dẫn đưa tín hiệu (maintenance) về bộ phận điều khiển (managerial) để khởi động động cơ máy lanh (production). Khi nhiệt độ thực và nhiệt độ mong muốn bằng nhau thì cảm biến lại gửi tín hiệu báo cho bộ phận điều khiển để ngắt động cơ. Trên thực tế có thể có những thay đổi bên ngoài tác động đến hệ thống này. Nếu vô ý để một bóng đèn ở gần bộ cảm biến, động cơ máy lạnh sẽ chạy mặc dù lúc đó các nơi khác trong nhà ở nhiệt độ thích hợp. Những yếu tố ở bên ngoài hệ thống máy lạnh (như bóng đèn chẳng hạn) nhưng có tác động đến sự hoạt động của hệ thống tạo nên cái gọi là môi trường hệ thống. Điều này rất quan trọng khi thiết kế hệ thống là xác định đâu là ranh giới giữa một hệ thống với môi trường của nó.

Hình 1 Hệ thống máy lạnh ở lớp học

CÁC HỆ THỐNG GIÁO DỤC
Áp dụng các khái niệm căn bản trên có thể mình họa hệ thống chương trình dạy nghề như hình 2.


Hình 2  Hệ thống chương trình dạy nghề

Đầu vào của chương trình là sinh viên tham gia khóa học. Đầu ra của quá trình là sinh viên tốt nghiệp. Việc đánh giá khả năng đáp ứng với xã hội, việc làm .v.v. của sinh viên tốt nghiệp sẽ là phản hồi để điều chỉnh lại hệ thống. Nếu của sinh viên tốt nghiệp không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất có thể cho thấy cần hướng dẫn lại cách học tập cho sinh viên hoặc hay xem xét lại yêu cầu về năng lực của chương trình đào tạo. Đầu vào, đầu ra, và các phản hồi là các yếu tố chính tác động đến hệ thống giáo dục cụ thể. Tương tự, cũng phải tính đến môi trường mà hệ thống giáo dục được vận hành. Trường học, cộng đồng, doanh nghiệp, cơ sở công nghiệp và chính phủ nằm trong trong số các yếu tố bên ngoài tác động đến chương trình dạy nghề có thể ảnh hưởng tới yếu tố đầu vào, đầu ra và cách vận hành hệ thống.

Banathy (1968) nêu lên vài khía cạnh căn bản của tiếp cận hệ thống:

  • Định rõ mục đích của hệ thống và trình bày các mong đợi đặc trưng của nó.
  • Khảo sát các đặc điểm đầu vào.
  • Suy xét các khả năng và quá trình để bảo đảm đạt được những năng lực định trước.
  • Thực hiện hệ thống và phân tích đầu ra để đánh giá mức kết quả đạt được và mức hiệu quả của hệ thống.
  • Tiến hành những điều chỉnh để đạt được mục đích, đầu ra tốt nhất và tính kinh tế của hệ thống.

Tiếp cận hệ thống trong giáo dục liên quan đến nhiều lĩnh vực. Ví dụ như hệ thống kế hoạch, hệ thống dạy học, hệ thống thực hiện, hệ thống chương trình và hệ thống đánh giá. Mỗi thành phần được thiết kế để thực hiện một cách thuận tiện và các thành phần được xây dựng dựa trên một thành phần khác có trước như là cơ sở của công việc sau.

Mặc dù đôi khi không được thể hiện trong các mô hình thiết kế, nhưng môi trường hệ thống vẫn có tác động chủ yếu đến việc thực hiện giáo dục theo năng lực thực hiện. Vì thế, chúng ta phải nhận diện và giải quyết các trở ngại tiềm ẩn. Một thực tế quan trọng cần tính tới là các yếu tố địa phương có thể chống lại những thay đổi giáo dục. Cũng vậy, môi trường hệ thống có thể ảnh hưởng bất lợi đến chính hệ thống.

Dưới đây là bảng chú giải ngắn gọn các thuật ngữ liên quan đến hệ thống:
+ Môi trường: hoàn cảnh mà trong đó hệ thống hoạt động.
+ Đầu vào: toàn bộ những gì từ môi trường tham gia vào hệ thống
+ Đầu ra: sản phẩm của hệ thống được đưa trở lại môi trường.
+ Quá trình: toàn bộ các hoạt động trong hệ thống tác động đến đầu vào để chuyển hóa nó thành đầu ra
+ Phản hồi: công cụ cung cấp thông tin kết quả đầu ra trở lại cho hệ thống để so sánh với những kết quả mong muốn.

TS. P. Đỗ Mạnh Cường

Tài liệu tham khảo:

[1].    Banathy, Bela. Instructional Systems. Palo Alto, Calif.: Fearon Publishers, 1968. Beauchamp, George A. Curriculum Theory, 4th ed. !tasca, Ill.: F. E. Peacock

[2].    Gay, Geneva. “Conceptual Models ofthe Curriculum Planning Process,” in Arthur W. Forshay, ed., Considered Action for Curriculum Improvement Alexandria, Va.: Association for Supervision and Curriculum Development, 1980, pp. 120-43.

[3].    Gordon, Geoffrey. System Simulation, 2nd ed. Englewood Cliffs, N.J.: Prentice-Hall,1978

[4].    Wentling, Tim L., and Barnard, Wynette S. “An Analysis of Perceived Emphasis on Vocational Education Outcomes.” Journal of Vocational Education Research 11, no. 4 (1986): 81-94.

This entry was posted in Tổng Hợp Về Giáo dục. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s