Sáng tạo: Gốc rễ thành công của Harvard

Lối suy nghĩ độc đáo, sáng tạo là “nguồn tài nguyên” chủ đạo tại Harvard. Những ý tưởng sáng tạo mang tính thực tiễn cao tại Harvard cũng đang ngày càng tìm được chỗ đứng vững chắc trên thế giới.

Đổi mới và sáng tạo trở thành gen đặc trưng của Harvard

Tại Harvard, sự kết hợp bền chặt giữa yêu cầu vận động trí óc, lòng nhiệt huyết và sự tìm tòi tri thức để giải quyết những vấn đề khó khăn nhất của xã hội đã thúc đẩy tính sáng tạo cao độ, đưa tới kết quả là sự ra đời một luồng gió đổi mới, đem lại những hiệu quả xuất sắc cho công chúng.

Suy nghĩ sáng tạo đã trở thành yếu tố chủ chốt của hệ thống trường học, trung tâm đào tạo và các học viện trực thuộc Harvard. Người ta đã chứng kiến rất nhiều đổi mới ở Harvard, bắt nguồn từ cách nhìn mới với những vấn đề cũ kĩ tồn đọng, từ việc nhận thức rõ rệt tầm quan trọng của những kết quả phần nhiều mang tính ăn may, và từ việc hiểu rõ thất bại chỉ là bước đi để tới gần hơn với thành công. Tinh thần đổi mới và sáng tạo ấy từ lâu đã ăn sâu vào “ADN của Harvard”, đưa tới sự ra mắt của kĩ thuật gây mê đầu tiên trong lịch sử ở bệnh viện Massachusetts General Hospital năm 1846 và sự phát triển của máy điều hòa nhịp tim (với công lao rất lớn của Paul Zoll) vào những năm 50 của thế kỉ XX.

 Sáng tạo: Gốc rễ thành công của Harvard

Tại Harvard, sự kết hợp bền chặt giữa yêu cầu vận động trí óc, lòng nhiệt huyết và sự
tìm tòi tri thức để giải quyết những vấn đề khó khăn nhất của xã hội đã thúc đẩy tính sáng tạo cao độ.

Chủ tịch đương nhiệm của ĐH Harvard Drew Faust đã nhấn mạnh vai trò của ngôi trường đại học khi bà nhậm chức, không quên nói thêm rằng Harvard mang trách nhiệm rất lớn đối với tương lai của xã hội. Bà chia sẻ: “Một trong những điều tuyệt nhất ở môi trường nghiên cứu của chúng tôi là những ngôi trường chính là những động cơ tuyệt hảo sản xuất ra cả nhiên liệu – những nhà khoa học, vật lý học, các kĩ sư, những triết gia và cả những ý tưởng tuyệt vời, làm mới nền kinh tế với những sản phẩm mới, công việc mới và những công ty mới mà họ mang lại.”

Thực vậy, Đại học Harvard thúc đẩy không chỉ lối tư duy đổi mới, mà còn tác động mạnh mẽ tới sức phát triển không ngừng của những ý tưởng lớn, tạo ra những sản phẩm mới, công ty mới kèm theo giải quyết vấn đề việc làm. Học việc Kĩ thuật sinh học Wyss tập trung vào việc ứng dụng những đột phá trong phòng thí nghiệm vào trong các ngành công nghiệp. Trường kinh doanh Harvard (Harvard Business School – HBS) cũng đã lên kế hoạch cho “Phòng thí nghiệm đổi mới” nhằm thúc đẩy sự sáng tạo và tư duy doanh nhân dành cho sinh viên và nghiên cứu sinh cao học.

Trung tâm Phát triển kĩ thuật (The Office of Technology Development – OTD) đóng vai trò thiết yếu trong công tác dịch vụ cộng đồng của trường Harvard, với vai trò giúp ứng dụng công nghệ vượt ra khỏi 4 bức tường của phòng thí nghiệm để thâm nhập thị trường, nơi những thành quả thí nghiệm được sử dụng trong thực thế. Trung tâm này cung cấp các nguồn lực để phát triển công nghệ mới vốn là yếu tố có sức hút rất lớn đối với các doanh nghiệp tư nhân. Các phát minh đã được đăng kí bằng sáng chế và đang ngày càng được lĩnh vực thương mại quan tâm, từ công nghệ Nano sử dụng trong bộ nhớ máy tính và công nghệ ADN, cho tới chủng ngừa bệnh bạch cầu mèo đều đã có trên thị trường; từ chủng ngừa bệnh tả trong thử nghiệm lâm sàng cho tới công nghệ điều khiển bằng chất lỏng tầm vi mô được dùng trong công nghiệp mỹ phẩm.

Các phòng thí nghiệm tại Harvard đã cho ra đời những kết quả vượt trội, đưa đến sự ra đời hàng loạt những công ty ứng dụng các kết quả đó, như RainDance Technologies, SiOnyx, và kể cả Le Whif – công ty của Giáo sư kĩ thuật sinh học David Edwards với ứng dụng kĩ thuật sản xuất “thức ăn” thưởng thức bằng … mũi – breathable food. (Với Breathable food, người ta có thể thưởng thức chocolate, coffee và cả vitamin bằng cách… hít vào, không cần nhai mà vẫn thưởng thức hương vị, và đặc biệt không thêm bất cứ đơn vị calories nào vào cơ thể – PV) . Nhà hóa học George Whitesides cũng là một trong những người sáng lập của vài công ty, trong đó có Surface Logix, công ty sản xuất thuốc chữa tiểu đường và béo phì; công ty công nghệ Nano Nano Terra, và Diagnostics for all, tổ chức phi lợi nhuận với nhiệm vụ đảm bảo cung cấp đủ thiết bị chẩn đoán y khoa ở những nơi còn thiếu thốn.

Những người đặt nền móng kĩ thuật cho sự ra đời của các công ty và sản phẩm mới chia sẻ rằng, mặc dù Đại học Harvard đôi khi được nhìn nhận như một môi trường học tập thuần túy và đơn điệu, trên thực tế chính sự tự do trong học thuật  đã là chất xúc tác cho lối suy nghĩ để giải quyết các vấn đề, nhờ những con người tò mò, thông minh và có động lực lớn, và tất cả đã tạo nên một “hệ sinh thái sáng tạo” ở Harvard.

David Weitz, Giáo sư vật lý ở Harvard, chia sẻ: “Tôi quan sát được nhiều sự sáng tạo ở đây hơn bất cứ đâu trong nền công nghiệp”. Giáo sư Weitz đã từng làm việc cho 1 công ty tư nhân trong 17 năm trước khi tới Harvard. “Bạn có những sinh viên tài năng và một môi trường linh hoạt. Harvard là một nơi lý tưởng dành cho bạn thực hiện bất cứ điều gì bạn muốn – miễn là bạn thực hiện tốt điều đó”.

Một vài ý tưởng khởi nguồn từ phòng thí nghiệm của giáo sư Weitz được đánh giá là có tiềm năng thương mại, và quả thực đã đưa tới sự ra đời của một số công ty. Trong tình hình kinh tế khó khăn, Weitz chia sẻ, ông tự hào hơn cả về việc đã góp sức tạo ra khoảng 100 việc làm. Công ty lớn nhất trong số những công ty được thành lập là RainDance Technologies, với 75 lao động, đã thông báo vào ngày 25/1 vừa qua số vốn huy động được của mình là 37.5 triệu đô-la. RainDance tập trung vào phát triển công nghệ y tế cho phép tiến hành các phản ứng hóa học trong các giọt. Mỗi giọt đóng vai trò như một ống nghiệm nhỏ, nhưng sử dụng ít hóa chất hơn, và tốc độ thử nghiệm cũng nhanh hơn.

Đổi mới và sáng tạo có thể dạy được

Kể từ năm 2006, các khoa, trường trực thuộc Harvard đã giúp sức thành lập 39 công ty. Số lượng phát minh mới được báo cáo đã tăng từ 180 vào năm 2006 lên tới 301 vào năm 2010. Hàng trăm bằng sáng chế đã được cấp, và 134 giấy phép đã được cấp cho các công ty ứng dụng công nghệ mới do Harvard sáng chế ra, mang lại 77 triệu đô-la cho ngôi trường danh tiếng này – phần lớn trong số đó được tiếp tục đầu tư vào những nghiên cứu sâu hơn. Ước tính năm 2009 những công ty có sự giúp đỡ về công nghệ hay “khởi nguồn” từ Harvard đã cung cấp cho nền kinh tế 7.500 việc làm chỉ tính riêng tại Boston và khu vực lân cận.

Sáng tạo thường bắt nguồn từ sinh viên Harvard, những người đặt trí tưởng tượng của mình vào những bài tập trên lớp, sáng tạo nên những sản phẩm mới. Ví dụ như VertiGrow, một mô hình trồng cây theo chiều dọc ứng dụng đặc biệt cho khu vực đông đúc, cung cấp phương án giải quyết vấn đề dinh dưỡng ở những khu ổ chuột của các nước đang phát triển. VertiGrow, đã giành giải thưởng Sáng tạo do Hiệp hội sáng kiến y tế toàn cầu Harvard trao tặng, đã đưa nhà phát minh  Elizabeth Nowak tới châu Phi để nghiên cứu sâu hơn. Đó là 1 ví dụ cho những ý tưởng thú vị bắt nguồn từ những sinh viên Harvard.

Trái ngược với những suy nghĩ thông thường, đổi mới và sáng tạo có thể được “dạy”. Và tốt hơn là nó có thể dạy được cho người khác, trích lời Peter Tufano, giáo sư Quản trị tài chính tại HBS và sắp trở thành trưởng khoa tại Oxford University’s Saïd Business School, bởi vì đó là chìa khóa để thành công trong thương trường.

Còn theo Cherry Murray, đã từng có vài bằng sáng chế và là chuyên gia có kinh nghiệm của Bell Laboratories, cái gốc rễ của đổi mới nằm ở sự sáng tạo. Bà đã học được từ rất nhiều năm trước, khi quan sát mẹ mình dạy hội họa, rằng mỗi đứa trẻ đều sáng tạo theo 1 cách nào đó. Mục tiêu của Harvard là bồi dưỡng cho những mầm non sáng tạo ấy.

“Những đứa trẻ bình thường đều rất sáng tạo” – Murray phát biểu. “Tôi không nghĩ rằng chúng ta cần phải dạy chúng. Chúng ta cần tạo điều kiện cho sự sáng tạo ấy được phát triển thêm” . Harvard cũng mới thành lập Trung tâm Kĩ thuật và Doanh nghiệp, hỗ trợ các dự án của sinh viên và cung cấp lời khuyên hữu ích cho những kế hoạch đổi mới.

Một ví dụ nữa là CS50. Ra đời cách đây 27 năm, CS50 là khóa học khoa học máy tính phổ biến không chỉ cung cấp kiến thức cơ bản về lập trình, mà còn buộc sinh viên phải tự tạo ra sản phẩm riêng, mà đôi khi mang lại  những kết quả vượt trội. Triển lãm sản phẩm cuối kì, tổ chức vào tháng 12 hàng năm, là cơ hội để các sản phẩm được trưng bày trước hàng trăm khoa, viện, sinh viên, nhân viên và các nhà đại diện công ty. Vì thế, khóa học tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên có thể tiếp tục nghiên cứu sản phẩm ngay cả sau khi khóa học kết thúc.

 Sáng tạo: Gốc rễ thành công của Harvard

Sinh viên Harvard thường được khuyến khích sáng tạo, đối mới, dám nghĩ dám làm,
dù đôi khi sáng tạo đi vào… ngõ cụt.

“Đó là 1 trong những môn học làm thay đổi cuộc đời tôi” – giảng viên David Malan chia sẻ. Ông đã tham dự khóa học CS50 khi còn là sinh viên vào năm 1996 và thay đổi chuyên ngành từ lĩnh vực chính trị sang khoa học máy tính. “Sau CS50, tôi biết tôi thực sự muốn học cái gì. Bạn sẽ thực sự cảm thấy hài lòng với bản thân khi đắm mình trong một thế giới mới và nhận ra những điều có thể làm được”.

Eric Mazur, giáo sư dạy Vật lý và Vật lý ứng dụng, cho rằng việc dạy khoa học nên được thiết kế lại. Hầu hết những hướng dẫn theo cách truyền thống yêu cầu sinh viên phải nhớ kiến thức và giải quyết các vấn đề, nhưng theo giáo sư Mazur, cách giải quyết vấn đề được dạy trong trường đại học không hề giống trong cuộc sống thực. Ông chia sẻ: “Ở trong lớp học, vấn đề cốt lõi là bạn có tìm ra đáp án đúng hay không. Còn ở bất cứ vấn đề trong cuộc sống thực, bạn hầu như đã biết đáp án rồi. Cái cốt lõi ở đây là bằng cách nào bạn đạt được cái đích ấy”.

Sáng tạo thực sự không phải là một con đường thẳng

Sáng tạo và đổi mới bắt nguồn từ khả năng có thể ứng dụng những suy nghĩ mới mẻ vào các hoàn cảnh khác nhau. Để dạy điều này, Mazur khuyến khích sinh viên thử những cách tiếp cận mới mà không lo lắng tới kết quả (chí ít là trong giai đoạn đầu). Những kinh nghiệm như vậy, theo ông, có thể không có lợi cho những ai chú trọng quá nhiều tới kết quả, nhưng sự khám phá thường đưa tới những ý tưởng mới với hướng nghiên cứu độc đáo hơn. Ông phát biểu: “Sáng tạo thực sự không phải là một con đường thẳng. Nó đi sang trái, phải hay đôi khi đâm vào ngõ cụt. Trong thế giới luôn đòi hỏi sự tối ưu này, chúng tôi muốn sinh viên không chỉ có khả năng tái sản xuất những thứ chúng tôi đã tạo ra, mà còn phải hơn hẳn chúng tôi và đưa sự phát triển lên tầm cao hơn”.

 Sáng tạo: Gốc rễ thành công của HarvardHiệu trưởng ĐH Harvard Drew Faust: “Một trong những điều tuyệt nhất ở môi trường nghiên cứu của chúng tôi là những ngôi trường chính là những động cơ tuyệt hảo sản xuất ra cả nhiên liệu…”

Việc tìm kiếm những cách nhìn mới cho những vấn đề cũ là một trong những nỗ lực của những dự án mới nghiên cứu về tiểu đường. Trường Harvard đã tổ chức cuộc thi tìm kiếm ý tưởng mới, và tháng 12 vừa rồi, 12 người thắng cuộc đã được chọn ra, và được tài trợ cho công việc nghiên cứu của họ.

Mặc dù cuộc thi có vẻ giống như một hướng tiếp cận mới, theo giáo sư Eva Guinan, giám đốc chương trình Harvard Catalyst Linkages, phương pháp đó bắt nguồn từ những giải thưởng trước đây trong lịch sử để tìm ra lời giải cho những gút mắc còn tồn đọng. Ưu điểm của phương pháp này, là thu nhập ý kiến của rất nhiều người, với những nền tảng kiến thức và góc nhìn khác nhau. “Chúng tôi có một cộng đồng đặc biệt xuất sắc với sức sáng tạo dồi dào. Thật lãng phí nếu không tận dụng chính những thứ mình đang có”. – Guinan chia sẻ.

Một cách khác để thúc đẩy sự đổi mới là khuyến khích những nghiên cứu mạo hiểm, có tiềm lực. Học viện kĩ thuật sinh học Wyss đã áp dụng cách đó để nâng cao chất lượng chăm sóc y tế và môi trường. Học viện này được thành lập 2 năm trước nhờ sự tài trợ 125 triệu đô la từ doanh nhân Hansjörg Wyss. HIện nay học viện có hơn  230 nhân viên. Kết hợp làm việc với học viện là các chuyên gia phát triển sản phẩm, những người giúp đỡ các nhà nghiên cứu tại Wyss cải tiến kĩ thuật mới đạt đến tầm ứng dụng được cho các doanh nghiệp tư nhân.

Giám đốc Wyss, Don Ingber, phát biểu: “Chúng tôi khác với các học viện khác. Chúng tôi không phải là một học viện nghiên cứu, mà tập trung nhiều hơn vào đổi mới và chuyển giao kĩ thuật.”

Các dự án đang được triển khai tại Wyss được thiết kế tạo điều kiện cho các nhân viên đến từ các phòng thí nghiệm khác nhau ở Harvard được làm việc cùng với nhau. Họ làm việc trên rất nhiều lĩnh vực. Đặc biệt, sản phẩm “lá phổi trên vi mạch”, tạo ra các mô phổi có thể sử dụng cho thí nghiệm mà không cần cấy trở lại con người và động vật thí nghiệm. Cũng có kĩ thuật mà thông qua xung điện giúp giữ cân bằng cho người lớn tuổi.

Ở Wyss, một khi ý tưởng sáng tạo được hình thành, nó thường đòi hỏi sự hỗ trợ có khác với những dạng thường gặp trong lớp học. Một giải pháp là Innovation Lab – phòng dành riêng cho những ý tưởng đổi mới ở các trường, trung tâm, phân viện trực thuộc Harvard. Innovation Lab dự kiến sẽ đưa vào hoạt động cuối năm nay.

“Chúng tôi có thể dạy sinh viên về sự đổi mới và về doanh nghiệp, nhưng việc dạy học không chỉ bị giới hạn trong khóa học mà còn được lồng vào cả những hoạt động ngoài giờ” – trích lời giáo sự Tufano tại trường Kinh doanh Harvard (HBS). “Chúng tôi muốn có rất nhiều hoạt động vào các buổi tối hay sáng sớm. Những hoạt động như thế có lẽ sẽ thu hút sự quan tâm đặc biệt”.

Innovative Lab sẽ hỗ trợ các ý tưởng mới của sinh viên cũng như các phòng ban của Harvard, cũng như các ý tưởng nảy sinh trong cộng đồng. Họ sẽ được hỗ trợ nơi làm việc, hỗ trợ gặp gỡ với những nhà tài trợ và cả những buổi tọa đàm với công chúng. Innovative Lab sẽ lo liệu những cuộc trao đổi về vấn đề doanh nghiệp và quyền sở hữu trí tuệ, và cũng đóng vai trò là tổ chức tư vấn tin cậy cho sinh viên và cả các nhà kinh doanh nhỏ, tất cả nhằm mục tiêu trợ giúp tối đa cho sáng tạo và đổi mới.

Và như vậy, Innovation Lab sẽ giúp cho Đại học Harvard thực hiện nhiệm vụ cao cả của nó đối với thế hệ tương lai.

Chủ tịch  Faust, trong diễn văn ngày nhậm chức, đã nhấn mạnh: “Giáo dục, nghiên cứu và giảng dạy luôn hướng tới sự thay đổi, biến đổi các cá nhân khi họ học tập, biến đổi thế giới khi con người thay đổi sự hiểu biết về nó, biến đổi xã hội khi chúng ta chứng kiến hiểu biết được chuyển thành các chính sách … hay được ứng dụng thành các phương pháp điều trị trong y khoa”.

This entry was posted in Tổng Hợp Về Giáo dục. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s