Triết lý giáo dục: Cần hay không?

(Giáp Văn Dương) – Thiếu triết lý giáo dục được cho là một trong những nguyên nhân chính của việc cải cách giáo dục thất bại. Nhưng sau nhiều năm tìm kiếm, triết lý giáo dục đúng đắn đó là gì thì không ai rõ. Chưa kể, bản thân một triết lý giáo dục cụ thể cũng chứa đựng những bất cập ở dạng tiềm tàng, nên đã đến lúc cần đặt lại và trả lời lại câu hỏi: Triết lý giáo dục: Cần hay không?

Sự thất bại của cải cách giáo dục, theo nghĩa phải làm đi làm lại nhiều lần mà hiệu quả vẫn không cao, gây bức xúc cho xã hội, được nhiều nhà giáo, nhà nghiên cứu qui cho việc thiếu một triết lý giáo dục dẫn dắt.

Những thảo luận về triết lý giáo dục vì thế đã nở rộ, ít nhất là trong khoảng thời gian 5 năm trở lại đây.Tuy nhiên, sau ngần ấy thời gian với nhiều công sức, vẫn chưa có một triết lý giáo dục phù hợp được tìm ra. Điều này dẫn đến câu hỏi: Triết lý giáo dục – cần hay không?

Trước khi trả lời câu hỏi này, có lẽ cần thống nhất về khái niệm triết lý giáo dục. Một cách tương đối, có thể hiểu triết lý giáo dục như sau: triết lý giáo dục là một hệ thống quan điểm mang tính chỉ đạo xuyên suốt cho mọi hoạt động giáo dục, được phát biểu cô đọng trong một vài câu, thậm chí một vài từ sao cho dễ nhớ và dễ thực hành theo.

Nếu hiểu như thế thì quả thật, chúng ta đã có, đã thực hành theo, hoặc ít nhất cũng là đã biết, rất nhiều triết lý giáo dục khác nhau. Hẳn nhiều người còn nhớ khẩu hiệu “Trí, Đức, Thể, Mỹ” một thời được sử dụng rộng rãi. Có thể coi đây là một triết lý giáo dục theo đúng nghĩa của khái niệm này.

Bản thân người viết bài này cũng nhận thấy, đây là một triết lý giáo dục hay theo nghĩa học thuật, tức là nếu tách nó ra khỏi môi trường thực tế của Việt Nam. Đây chính là phát biểu cụ thể về triết lý giáo dục toàn diện mà nhiều nước theo đuổi, trong đó có những nước có nền giáo dục rất tiến bộ. Nhưng thực tế triển khai thì sao? Có thể nói là thất bại: Trí, Đức, Thể, Mỹ của học sinh đều có vấn đề về mặt này mặt khác. Nếu không, chúng ta đã không phải dằn vặt chuyện triết lý giáo dục đúng hay sai như thế này.

Vậy thì vì sao thất bại? Vì sao một triết lý đúng, thậm chí rất đúng, về mặt học thuật và nhân văn, nhưng khi đưa vào thực tế lại thất bại? Vì đó chỉ là những triết lý trên giấy. Dưới sự nhào nặn vô tình hoặc có chủ ý của những người quản lý và điều hành nền giáo dục thiếu năng lực hoặc thiếu trong sáng, triết lý giáo dục dù rất đúng trên văn bản này đã biến tướng trở thành thứ quan liêu, khô cứng, thậm chí phản tiến bộ.

Này nhé: Trí tuệ, Đạo đức, Thể chất, Thẩm mỹ được đề cao và phát triển toàn diện, đồng thời. Nhưng trí tuệ nào mới được học, mới đúng đường lối; đạo đức nào mới là tốt, mới đúng quan điểm; thẩm mỹ nào mới là đẹp, mới phục vụ nhân dân; thể lực nào có thể phát triển khi học trò phải học ngày học đêm theo kiểu nhồi nhét càng nhiều càng tốt? Những người quản lý và điều hành nền giáo dục, với quyền lực và công cụ của mình, có thể đưa vào bất cứ nội dung nào mà họ muốn. Còn người học và người dạy ở cấp cơ sở chỉ còn biết tuân theo. Như thế, do cái triết lý giáo dục toàn diện “Trí, Đức, Thể, Mỹ” đó, thay vì được phát triển toàn diện, học trò lại bị đầu độc một cách toàn diện, có hệ thống. Triết lý giáo dục như vậy, thà rằng không có còn hơn.

Vào nhiều trường phổ thông bây giờ, thấy rất nhiều trường cho kẻ khẩu hiệu: Tiên học lễ, hậu học văn. Liệu đây có phải là một triết lý giáo dục? Có thể đúng, cũng có thể không, tùy theo quan điểm của mỗi người. Nhưng chắc chắn đó là một quan điểm lớn về giáo dục đang được nhiều nơi ủng hộ. Nhưng quan điểm này không mới, đã có hàng nghìn năm nay rồi. Nó đã bất lực trong quá khứ, thì chắc chắn cũng sẽ bất lực trong hiện tại khi giải bài toán cải cách giáo dục hiện thời. Người ta cầu viện đến nó như một giải pháp nhất thời khi đạo đức học đường xuống cấp mà chưa nghĩ ra được giải pháp gì hơn. Nó mách bảo ta về một vấn đề đang nhức nhối cần có giải pháp chứ không phải là lời giải của vấn đề nhức nhối đó.

Đi xa hơn, sẽ thấy rất nhiều quan điểm hay, có thể dùng làm triết lý giáo dục cho xã hội. Nếu đi về phía Bắc, cái nôi của Nho giáo, nếu chỉ để ý đến những điều gần gũi hiện thời mà không xét đến những thứ xa xôi dĩ vãng từ thời Khổng Tử, sẽ thấy Đại học Thanh Hoa giương cao khẩu hiệu: “Tự cường bất tức, hậu đức tải vật – tạm dịch là: Cố gắng học hỏi không ngừng để sau này mang tri thức và đức độ ra giúp đời, Đại học Phúc Đán kẻ to hàng chữ: “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư – tạm dịch là: Học rộng chí lớn, luôn nghi ngờ, luôn đào sâu suy nghĩ [1]. Đây là những huấn dụ giáo dục của nhà trường, có thể tham khảo, nhưng nếu mang về để trở thành triết lý giáo dục của mình thì chắc là không được, và chắc chắn sẽ không ích lợi bao nhiêu trong việc giải bài toán giáo dục của chúng ta hiện thời.

Nếu đi về phương Tây, quê hương của nền giáo dục đại học hiện đại trên thế giới, sẽ gặp W.Humboldt với tinh thần tự do học thuật và đại học nghiên cứu, được khởi xướng và cổ vũ bởi một triết gia vĩ đại trước đó – I. Kant- với khẩu hiệu nổi tiếng của thời khai sáng: Hãy dám biết! Và bên cạnh đó, sẽ thấy Karl Marx sừng sững với câu nói ưa thích: Hãy nghi ngờ tất cả!

Thậm chí, ở ngay phương Đông này, Đức Phật còn nói rõ ràng hơn, đại ý: Đừng tin gì cả, hãy tự tìm ánh sáng cho mình – Vô chấp. Ngài thậm chí còn đi xa hơn bằng cách nghi ngờ ngay cả sự tồn tại của chính mình – Vô ngã.

Nếu đi sang châu Mỹ, nơi có những đại học hàng đầu thế giới, sẽ thấy khẩu hiệu của Đại học Harvard là: Veritas, Christo et Ecclesiae – Chân lý, cho Đức Chúa và Giáo hội” và của Đại học Yale: “Lux et Veritas – Ánh sáng và Chân lý1, nhưng cũng lại trong liên hệ với một câu Kinh Thánh: But whoever lives by the truth comes into the light, so that it may be seen plainly that what he has done has been done through God.” (John 3:21)- tạm dịch: Nhưng, ai đã sống trong chân lý thì sẽ đến trong ánh sáng, và để cho những việc làm của mình được sáng tỏ, là đã sống trong Đức Chúa rồi. Liệu đó có là triết lý giáo dục hiện thời của hai đại học nổi tiếng vào bậc nhất thế giới, hay chỉ là di sản của một nhận thức/thế lực xưa cũ?

Nhưng nếu mang khẩu hiệu này: “Hãy dám biết!”,“Hãy nghi ngờ tất cả!”,“Tự cường bất tức, hậu đức tải vật”, “Bác học nhi đốc chí, thiết vấn nhi cận tư, “Vô chấp vô ngã”, “Chân lý, cho Đức Chúa và Giáo hội”, “Ánh sáng và Chân lý”… về treo ở mỗi trường học và công sở của Bộ Giáo dục thì nền giáo dục của chúng ta có tiến lên chăng?

Gần đây hơn, Ủy Ban Quốc tế về Giáo dục thế kỷ XXI của UNESCO đã phát hành báo cáo “Học tập: Kho báu nội tại” [2], trong đó có đưa ra khái niệm học suốt đời và nhận định: Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI là: Học để biết, Học để làm, Học để chung sống và Học để khẳng định mình. Phải nói ngay rằng, đây là triết lý giáo dục rất đúng của UNESCO, có ảnh hưởng to lớn đến định hướng giáo dục của các nước trên thế giới. Khái niệm học suốt đời giờ đây đã trở thành câu cửa miệng của người làm giáo dục. Chính những khái niệm này, sau khi ra đời, cũng đã được đưa về áp dụng ở Việt Nam. Nhưng thực tế giáo dục hơn mười năm qua cho thấy, chúng cũng không phát huy được bao nhiêu tác dụng. Bằng chứng là giáo dục vẫn ì ạch như xưa, thậm chí hơn xưa.

Đến đây chúng ta thấy lòi ra một vấn đề: Triết lý giáo dục chỉ là những câu nói hay về giáo dục, không hơn. Nó có thể là ánh sáng soi đường cho nền giáo dục, nhưng cũng có thể là cái bẫy ngôn ngữ cho chúng ta sa vào.

Bẫy ngôn ngữ?

Với một nền giáo dục phát triển, thì những khẩu hiệu tinh thần mang tên triết lý giáo dục này có tác dụng soi sáng và định hướng phần nào. Nhưng chắc chắn, đó không phải là yếu tố quyết định đến chất lượng giáo dục. Khẩu hiệu “Chân lý, cho Đức Chúa và Giáo hội” chắc chắn không quyết định chất lượng giải dạy và nghiên cứu của Đại học Harvard. Cái quyết định đến đẳng cấp của trường này, phải là chất lượng của đội ngũ giáo sư và sinh viên, cơ sở vật chất, văn hóa, truyền thống học thuật và rất quan trọng là cách thức tổ chức và cơ chế vận hành nhà trường.

Vậy nếu chúng ta quy cho việc giáo dục xuống cấp là do không có triết lý giáo dục dẫn dắt, và sa vào việc tìm kiếm những triết lý giáo dục hết năm này qua năm khác, mà không biết bao giờ mới thấy; nếu thấy rồi thì chưa chắc đã đồng thuận; nếu đồng thuận rồi thì chưa chắc triển khai ra đã thành công, như triết lý “Trí, Đức, Thể, Mỹ” một thời chẳng hạn, thì có phải là tự ta đã sa vào những cái bẫy ngôn ngữ mang tên triết lý giáo dục này không?

Giả sử bây giờ chúng ta thống kê tất cả những quan điểm, triết lý giáo dục hay của Đông Tây kim cổ, rồi chọn ra những cái hay nhất, đã được ứng dụng thành công nhất, lập thành một bảng, gọi là bảng triết lý giáo dục, rồi đưa về tất cả các trường sở để triển khai thì liệu giáo dục có tiến bộ? Tôi đồ rằng, cách làm đó sẽ chỉ làm mọi việc thêm rối.

Chưa kể, mang một hệ quan điểm cố định để áp đặt cho một thực thể giáo dục sống động là đã mang mầm sai sót ngay từ đầu. Những quan điểm này, qua sự khúc xạ của các lăng kính chính trị, văn hóa, lợi ích cục bộ, … sẽ có nguy cơ biến dạng và tha hóa, trở thành những giá trị khác hoàn toàn so với trông đợi ban đầu. Thực tế, điều này đã xảy ra.

Việc mang một hệ quan điểm giáo dục về áp dụng đồng loạt cho cả hệ thống cũng không hẳn đã là hay. Nó sẽ tạo ra những sản phẩm đồng loạt giống hệt nhau, thui chột sự đa dạng, và về lâu dài, sẽ có hại hơn có lợi. Những quan điểm giáo dục khác nhau, phong phú và đa dạng về bản chất, nên được tạo cơ hội để thể hiện ở mỗi cá nhân, mỗi cơ sở giáo dục trong hệ thống mà nó thấy phù hợp nhất, thay vì chỉ có một triết lý độc tôn.

Nói như thế không phải là phủ nhận vai trò của những quan điểm, triết lý giáo dục, mà chỉ để nhấn mạnh rằng: chúng không phải là giải pháp thực sự cho sự yếu kém của hệ thống giáo dục hiện thời. Lo giải quyết chuyện triết lý giáo dục sẽ chỉ mất thời gian và công sức của xã hội mà thôi.

Vậy chúng ta phải làm gì với hệ thống giáo dục này? Tốt hơn hết là tạm gạt những cái bẫy ngôn ngữ mang tên triết lý giáo dục này ra và cải tiến hệ thống giáo dục của chúng ta theo những định hướng thật hiện đại, thật mộng mở, thật vững chắc để làm nền cho mọi hoạt động giáo dục được triển khai thành công; mọi tư tưởng giáo dục có cơ hội được thực hiện. Nói cách khác, chúng ta phải mở ra những đại lộ lớn cho giáo dục tiến lên, thay vì trông chờ vào một phép màu ngôn ngữ mang tên triết lý giáo dục.

Vậy những định hướng lớn đó là gì?

Những định hướng lớn

Theo quan sát, hiểu biết và những va chạm thực tế của người viết, những định hướng lớn cho hệ thống giáo dục sẽ là: Mở, Sáng tạo, Toàn diện, Hiện đại, Hội nhập [3].

Những định hướng này được áp dụng cho việc thiết kế, sửa chữa và vận hành hệ thống giáo dục như một tổng thể, thay vì áp dụng cho các hoạt động giáo dục cụ thể. Nói cách khác, chúng là những nguyên tắc nền tảng cho việc tổ chức và vận hành hệ thống giáo dục chứ không phải là tiêu chí cần hướng đến của các hoạt động giáo dục.

Trong khuôn khổ một bài viết, có thể diễn giải những nguyên tắc này như sau:

Mở: Đó là hệ thống giáo dục phải có tính chất mở: về cơ cấu lẫn cơ chế, về chương trình và phương pháp giảng dạy… Như thế, cái mới, cái tiến bộ, cái cập nhật lúc nào cũng có điều kiện tham gia vào hệ thống. Chẳng hạn, nếu mở về chương trình thì sẽ có nhiều bộ sách giáo khoa thay vì một bộ. Cách tổ chức giảng dạy ở bậc đại học sẽ thay đổi từ niên chế sang tín chỉ. Nếu mở về nội dung thì sẽ không bị trói buộc bởi những quan niệm giáo dục truyền thống, mang tính ý thức hệ. Mở về cơ chế thì sẽ tạo sự liên thông giữa trường, viện và doanh nghiệp. Nếu mở về cơ cấu thì các chuyên gia trong và ngoài nước sẽ có thể đến các trường giảng dạy một cách thuận lợi. Vì thế, thiết kế một hệ thống giáo dục có tính chất mở là phải là một nguyên tắc quan trọng hàng đầu.

Nguyên tắc Mở này sẽ giúp cho hệ thống tự đổi mới mình, tự hoàn thiện mình và do đó thích ứng được với sự phát triển không ngừng của xã hội, không biến mình thành kẻ tụt hậu.

Sáng tạo: “Giáo dục không phải là đổ đầy một bát nước, mà là thắp sáng một ngọn lửa” [4]. Người học là những thực thể chủ động, có tính sáng tạo cao. Vì thế, tìm cách khơi dậy tính sáng tạo của người học, hướng dẫn họ tự tin, dám chủ động tìm tòi chiếm lĩnh tri thức và kĩ năng mới là nguyên tắc giáo dục quan trọng sống còn. Hệ thống giáo dục vì thế phải được thiết kế và vận hành sao cho phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của cả người dạy và người học. Trong thời đại cạnh tranh toàn cầu, không sáng tạo đồng nghĩa với thất bại. Cho nên, một hệ thống giáo dục chỉ tập trung nhồi nhét tri thức thay vì thúc đẩy sáng tạo tri thức sẽ là một hệ thống thất bại ngay từ bản thiết kế ban đầu.

Toàn diện: Được phát triển toàn diện là mong ước và nhu cầu của bất cứ người nào. Một hệ thống giáo dục vì thế, cũng phải được thiết kế để giúp người học phát huy được hết mọi khả năng của mình, được vun đắp để phát triển về tất cả các mặt, không chỉ tri thức, kĩ năng mà còn là sức khỏe, nhân cách, lối sống, xúc cảm, tâm hồn… Họ phải được học cách ứng xử không chỉ với bản thân mình, với gia đình, xã hội mà còn cả với thiên nhiên, với môi trường.

Một hệ thống giáo dục toàn diện cũng phải tạo cơ hội học tập bình đẳng cho tất cả các thành phần trong xã hội, không phân biệt nguồn gốc, tôn giáo, hoàn cảnh kinh tế, tình trạng tật nguyền… Vì thế, giáo dục toàn diện phải được coi như một nguyên tắc hoạt động nền tảng của hệ thống giáo dục.

Hiện đại: Trên thực tế, giáo dục Việt Nam đã bị tụt hậu quá xa so với các lĩnh vực khác, đặc biệt là so với sự đòi hỏi phát triển của đất nước. Những tri thức được giảng dạy trong nhà trường, nhất là ở bậc đại học, đã quá ư cũ kĩ. Phương tiện, cách thức giảng dạy cũng đã quá lạc hậu. Chính vì thế, để theo kịp được với đòi hỏi của xã hội, và phần nào cạnh tranh được với bên ngoài, hệ thống giáo dục phải lấy tiêu chí hiện đại là một trong những nguyên tắc tổ chức và vận hành. Ứng dụng các thành tựu giáo dục, khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, khoa học tâm lý, sự cập nhật của tri thức và các thức giảng dạy… phải được đưa vào mọi hoạt động giáo dục. Hệ thống giáo dục phải đi trước một bước so với sự phát triển của xã hội, thay vì đi sau xã hội hàng chục năm như hiện giờ.

Hội nhập: Hội nhập là xu thế tất yếu trong thời toàn cầu hóa. Vì thế nền giáo dục phải hướng đến những tiêu chuẩn mà cả thế giới đang tuân theo. Ta không nên dạy một thứ hoàn toàn khác biệt so với bên ngoài, và dùng những tiêu chuẩn khác biệt với bên ngoài để đánh giá kết quả giáo dục của ta. Cho nên, hệ thống giáo dục phải được thiết kế, tổ chức và vận hành theo những tiêu chuẩn được thế giới thừa nhận. Học sinh sinh viên khi ra nước ngoài học tập, sinh viên tốt nghiệp khi ra nước ngoài làm việc phải có khả năng hòa nhập và đáp ứng được yêu cầu của thế giới bên ngoài, ít nhất là về tri thức và kĩ năng. Những quan điểm giáo dục tiến bộ đã được thế giới nghiên cứu và ủng hộ, như quan điểm “Học suốt đời” và “Học để biết, Học để làm, Học để chung sống, Học để khẳng định mình” cũng phải được đưa vào hệ thống giáo dục. Vì thế, hội nhập phải là một nguyên tắc quan trọng không thể thiếu trong việc thiết kế và vận hành hệ thống giáo dục của chúng ta.

Trên đây là đề xuất về năm định hướng lớn – hay năm nguyên tắc – sử dụng trong việc thiết kế, sửa chữa, tổ chức và vận hành hệ thống giáo dục của chúng ta. Việc cải cách giáo dục, trên thực tế chính là việc sửa chữa, thiết kế lại một phần hệ thống giáo dục hiện có sao cho hiệu quả hơn. Thay vì đi tìm những triết lý giáo dục mơ hồ, nếu sử dụng những định hướng lớn này làm phương châm hành động thì việc cải cách giáo dục của chúng ta chắc chắn sẽ ít rủi ro hơn và đạt hiệu quả sẽ cao hơn. Thành quả đạt được chắc chắn cũng bền vững hơn, toàn diện hơn.

Vậy, nếu hiểu triết lý giáo dục là những nguyện tắc lớn, định hướng lớn cho việc tổ chức và vận hành cả hệ thống giáo dục, thì đó là điều cần thiết. Còn nếu hiểu triết lý giáo dục là những giá trị cụ thể mà hoạt động giáo dục cần hướng tới, thì điều đó không thực cần trong hoàn cảnh hiện nay, khi nhiệm vụ cải tạo lại cả hệ thống giáo dục trở nên quan trọng hơn bất cứ một hoạt động giáo dục cụ thể hay những cải tiến mang tính chắp vá đối phó nào.

Hãy tạm quên đi những chiếc bẫy ngôn ngữ mang tên triết lý giáo dục để tập trung vào việc thiết kế và sửa chữa lại toàn bộ hệ thống giáo dục dựa trên những nguyên tắc nền tảng, hay những định hướng lớn mà cả hệ thống cần hướng tới.


[1] Có thể đọc thêm để rõ hơn về khẩu hiệu của các trường Đại học nói trên, trong: Dương Phúc Gia, Nội dung văn hóa của Đại học, Huy Đường lược dịch, Tia Sáng, 05/12/2010.

[2] Xem toàn văn tại: http://www.unesco.org/delors/treasure.htm

[3] Đã được đề cập sơ qua trong bài trả lời phỏng vấn báo Tiền Phong ngày 13/12/2009.

[4] William Butler Yeats (1865-1939).

This entry was posted in Tư Tưởng Giáo Dục. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s