Jan.Amos. Comenxki (1592 – 1670)

1. Tiểu sử:

Ông sinh ngày 28/3/1952 tại làng Nievni thuộc sứ Môravơ của cộng hoà Slôvakia.

Cha của ông là một người thợ xay bột thuộc dòng hội tin lành có tên là “Hội liên hiệp dòng Môravơ”.

Năm 12 tuổi ông mồ côi cả cha lẫn mẹ, được cô đem về nuôi. Năm 16 tuổi, ông được giáo hội gửi vào học trường La tinh ở Psêrôp, ông học rất giỏi. Sau đó ông được cử đi học Đại học ở Đức, đó là trường Héc-boóc và Heidelberg. Năm 1614 (22 tuổi), ông tốt nghiệp và trở về quê đảm nhận một số công việc giáo dục của giáo hội Môravơ.

J.Comenxki sưu tầm các câu tục ngữ, ca dao trong dân gian và viết nên tác phẩm “Kho báu ngôn ngữ Tiệp Khắc”, với ý muốn cho đồng bào của ông dùng tiếng mẹ đẻ để học cao lên.

Năm1621, trước cuộc đàn áp đẫm máu về tôn giáo, ông phải bỏ nhà, bỏ trường đi ẩn trốn. Vợ và các con của ông cũng bị chết bởi chiến tranh và dịch hạch.

Năm 1631, ông cho xuất bản cuốn “Mở cánh của vào ngôn ngữ”. Đây là cuốn sách dạy tiếng La tinh bằng phương pháp mới, nó có một tác dụng vô cùng to lớn vì ông đẫ tóm tắt gọn gẽ hệ thống kiến thức hiện đại, đồng thời phối hợp chặt chẽ giữa lời và ý, tránh được cách học khô khan, từ ngữ trước kia.

Năm 1632, ông viết tác phẩm nổi tiếng “Phép giảng dạy vĩ đại” bằng tiếng Tiệp Khắc, rồi tự dịch ra tiếng La Tinh cho dễ phổ biến. Tác phẩm đẫ trình bày những tư tưởng cấp tiến, khoa học, nhân văn về mô hình giáo dục hiện đại mà ngày nay chúng ta đang phấn đấu áp dụng, mở đầu cho một nền giáo dục mới – nền giáo dục cận đại.

Bên cạnh đó, ông còn viết tác phẩm “Loan báo về một nhà trường mẫu giáo”, tác phẩm chỉ ra những phương pháp học tập ở nhà trường mẫu giáo, học mà chơi,chơi mà học, rồi đưa ra những chỉ dẫn về giáo dục thẩm mỹ, đưa âm nhạc, thơ ca, hội hoạ vào giáo dục trẻ em. Đây là những điều mà ở Châu Âu hàng mấy thế kỷ sau người ta mới tiếp nhận và phổ biến.

Ông còn biên soạn chương trình biên soạn giáo dục trẻ mẫu giáo thành một bộ sưu tập tranh sắp xếp theo chủ điểm mang tên là “Thế giới bằng tranh”, xuất bản năm 1658. Đây là quyển sách bằng tranh vẽ ra đời sớm nhất thế giới.

Ngoài ra ông còn viết tác phẩm như “Con đường ánh sáng”, “Báo hiệu về sự thông thái phổ quát” vào năm 1637, “Phác thảo nên một chương trình chi tiết xây dựng những hàn lâm viện của những nhà thông thái ở Anh”… Những tác phẩm này góp phần hoàn chỉnh khoa học sư phạm của ông.

Năm 1670, J.Comenxki qua đời ở Amstecđam, hưởng thọ 78 tuổi, ông đã để lại cho đời sau trên 250 tác phẩm lớn nhỏ.

2. Tư tưởng giáo dục của J.Comenxki

Ông nhấn mạnh vai trò của giáo dục và ông cho rằng: “Con người muốn trở thành con người thì phải có học vấn”, “Nhà trường chính là nơi đào tạo nên những con người chân chính, là cái xưởng để chế tạo ra nhân đạo và hạnh phúc”. Ông còn nói: “Người giàu có mà không có học vấn chẳng khác nào con lợn béo ị vì ăn cám; người nghèo khó không có học vấn thì khác nào con lừa đau khổ buộc phải tải nặng . Một người có hình thức đẹp đẽ mà không có học vấnthì chỉ là một con vẹt có bộ lông hào nhoáng, hoặc như người ta đã nói, một lưỡi kiếm bằng chì trong vỏ kiếm bằng vàng”. Do vậy, ông cho rằng giáo dục cần cho tất cả mọi người, đặc biệt là thanh niên, ông nói: ” Tất cả các trẻ em trai và gái, con nhà giàu cũng như con nầ nghèo, ở thành phố hay ở thôn quê đều phải được vào nhà trường một cách bình đẳng”.

Comenxki đề cao vị trí của người thầy giáo. Ông nói rằng “Dưới ánh sáng mặt trời không có nghề nào cao quý hơn nghề dạy học”, ông đặt ra cho thầy giáo những yêu cầu cao về lòng nhân ái, về phẩm chất đạo đức để làm gương sáng cho học sinh. Người thầy phải đối xử với học sinh công bằng, ân cần, hoà nhã. Ông nói: “Không thể trở thành người thầy nếu không phải là ngươì cha”.

Ông đưa ra một số nguyên lý giáo dục phải dựa vào sự thích ứng với tự nhiên. Ông lý giải con người là một thực thể tự nhiên nên giáo dục con người cũng phải tuân theo quy luật của tự nhiên và trật tự chính xác của nhà trường cũng phải bắt chước theo giới tự nhiên. Vì là thích ứng với tự nhiên nên quá trình giáo dục phải được bắt đầu từ rất sớm, trước khi tinh thần con người ta hư hỏng đi, phải chuẩn bị cho người học sinh ham thích sự học. Phương pháp dạy học tự nhiên được tiến hành từng bước từ dễ đến khó, từ chung đến riêng, rồi ông còn cho rằng dạy học trưc quan mang lại lợi ích kinh tế rất lớn.

Comenxki đã khái quát kinh nghiệm dạy học của loài người và nâng lên đỉnh cao bằng cách đưa ra một hệ thống các nguyên tắc chỉ đạo công tác dạy học, đó là những nguyên tắc như: Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, dạy học vừa sức, đảm bảo tính trực quan, đảm bảo độ vững bền của tri thức, dạy học phải đảm bảo tính hệ thống, liên tục… Cho đến nay, nguyên tắc này vẫn còn nguyên giá trị lý luận của nó.

Quá trình giáo dục ở nhà trường đã được ông chia làm 4 giai đoạn phù hợp với bốn thời kỳ của tuổi học:

Thời kỳ từ 0 đến 6 tuổi: Trẻ em vào học trường mẫu giáo hay còn gọi là trường “Lòng mẹ”. Ở đây, trẻ được rèn luyện về sức khoẻ, học vẽ, học hát, vui chơi để có điều kiện phát triển mọi khả năng và rèn luyện các giác quan để nhận thức thế giới bên ngoài.

Từ 6 đến 12 tuổi: Trẻ em được đến trường quốc ngữ. Nội dung dạy học là trẻ được học đọc, học viết, học làm tính… tức là những tri thức cơ bản.

Từ 12 đến 18 tuổi: Trẻ vào học ở trường La tinh. Ở đây thiếu niên được học các môn học nâng cao về tự nhiên, xã hội như: ngữ pháp, tu từ học, biện chứng pháp, toán học, thiên văn, lý luận âm nhạc… để trau dồi óc phán đoán, trí thông minh…

Từ 18 đến 24 tuổi: Học sinh vào học Đại học với các môn học: triết học, y học, luật học… và đây là giai đoạn cuối cùng của đời học trò nhằm hoàn thiện con người, đào tạo ra những nhà khoa học sẵn sàng tham gia bước vào hoạt động lao động phục vụ cho xã hội.

Comenxki mong muốn chỗ nào cũng có trườn Mẫu giáo, mỗi một làng có một trường Quốc ngữ, mỗi một thành phố có một trường La tinh, mỗi một miền phải có một trường Đại học.

Comenxki là người đầu tiên trong lịch sử xây dựng lý luận và tổ chức trong thực tiễn một hình thức tổ chức dạy học mới mẻ gọi là “hệ lớp – bài”, có ý nghĩa to lớn về lý luận và thực tiễn giáo dục:

Lớp: Học sinh được tập hợp theo đơn vị lớp có trình độ tương đương, lứa tuổi tương đương, tâm sinh lý tương đồng.

Bài: Chương trình dạy học được phân ra bao gồm nhiều môn học, mỗi môn học có số bài học nhất định, có thời gian mở đầu, có lúc kết thúc, năm học được chia ra thành nhiều học kỳ.

Cômenxki rất quan tâm đến ảnh hưởng của môi trường đến hoạt động giáo dục. Ông cho rằng nhà trường phải được xây dựng ở một vị trí thích hợp, trong đó mỗi mọt lớp học có một phòng riêng, mỗi phòng học có một giáo sư đảm nhiệm việc dạy học cho tất cả học sinh, ghế của giáo sư phải để gần cửa sổ để mọi người đều trông thấy và nghe thấy.

Ông rất chú trọng đến việc giảng dạy bằng tiếng mẹ đẻ, bởi vì ông cho rằng: “Muốn dạy ngoại ngữ cho những người chưa nắm được tiếng dân tộc mình thì khác nào dạy trẻ cưỡi ngựa trước khi biết đi”.

Về phương diện kỷ luật trong nhà trường, ông phản đối lối kỷ luật bằng roi vọt. Ông nhấn mạnh: “Kỷ luật là cần thiết đối với những người lệch lạc không phải vì họ lệch lạc mà để họ đừng lệch lạc nữa”. Kỷ luật không được nhu nhược, không được giận dữ, không được thù hằn để người bị kỷ luật nhận thấy rằng trừng phạt là vì lợi ích của bản thân họ và vì tình thương yêu của người thầy giáo.

Tóm lại: Về mọi mặt, J.Comenxki có những cống hiến rất quý báu cho sự nghiệp giáo dục. Ông đã tổng hợp được lý luận kinh nghiệm và thực tiễn từ thời kỳ phục hưng và đặt nền móng, cơ sở cho nền giáo dục tiên tiến, xứng danh là “ông tổ của nền sư phạm cận đại”.

Nguồn: giaoduchoconline.com

This entry was posted in Chân Dung Nhà Giáo Dục. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s