Khổng Tử (551 – 479 tr.CN)

1. Tiểu sử

Khổng Tử tên là Khâu, tự là Trọng Ni, người nước Lỗ (ngày nay là Sơn Đông), sinh trong một gia đình vốn là quý tộc nhưng đã sa sút. Ông thuộc tầng lớp sĩ trong giai cấp thống trị, tức giai cấp địa chủ mới lên do giai cấp chủ nô bị phân hoá ra.

Năm 51 tuổi, ông làm quan với vua nước Lỗ, nhưng chẳng bao lâu, ông đi chu du thiên hạ, ý muốn đem cái đạo của mình ra giúp đời; ông đã đi hết nước này sang nước khác trong 14 năm trời, nhưng không ai dùng được. Cuối cùng năm 60 tuổi, ông trở về nước Lỗ, chuyên vào việc trước tác và nghề dạy học – nghề mà ông đã bắt đầu theo từ hồi 20 tuổi.

Khổng Tử đã mở một trường tư khá quy mô, có chỗ giảng bài gọi là “đường”, có chỗ cho học sinh ở gọi là “nội”. Trước sau số học trò của ông có hơn 3000 người, thuộc các nước Lỗ, Tần, Tấn, Trịnh, Vệ , Tống, Trần, Ngô, Sở. Về tuổi, có người chỉ kém ông có 9 tuổi, nhưng có người kém đến hơn 50 tuổi.

2. Các tư tưởng giáo dục

Trong 50 năm làm nghề dạy học, Khổng Tử đã đạt được thành tích huy hoàng:

Mục đích giáo dục của Khổng Tử:

Khổng Tử dạy cho người ta trở thành người nhân nghĩa, trung chính, hiểu được cái đạo của người quân tử: “Viên ngọc không dũa không thể thành đồ dùng, người không học không thể biết đạo được”.

Người ta có học thì mới giữ được cái đức thực hay, thực tốt: “Muốn có nhân mà không thích học thì cái che đi là sự ngu muội”.

Khổng Tử muốn rằng mỗi ngày người ta một thêm mới mãi; nhờ có học cái đức sáng càng sáng thêm, người ta càng ngày càng hơn, đến cõi chí thiện mới thôi.

Theo ý ông, việc giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng của nhà chính trị: khi đi qua nước Vệ, thấy dân đông đúc, ông khen:

– Dân đông lắm thay!

Học trò ông là Nhiễm Hữu hỏi:

– Dân đông rồi thì nên làm gì?

– Làm cho dân giàu (phú).

– Dân đã giàu rồi thì làm gì nữa?

– Phải dạy dân (giáo).

Cái hệ thống “thứ, phú, giáo” này nhà chính trị không được sao lãng.

Tuy nhiên, mục đích giáo dục của Nho giáo vẫn mang nặng tính giai cấp,Khổng Tử cho rằng người quân tử (tức giai cấp quý tộc) học đạo thì yêu người, còn kẻ tiểu nhân (tức người thường dân) học đạo để dễ sai khiến. Như thế có nghĩa là cần dạy dân để biến họ thành tầng lớp tay sai mà thôi.

Nội dung giáo dục của Khổng Tử

Khổng Tử dạy học trò đạo Nho, tức là cái học thuyết ông đã đặt ra. Học thuyết đó dựa trên một thế giới quan duy tâm: ông tin có trời và có quỷ thần. Trời là chúa tể vũ trụ, chi phối mọi vật trong thế gian bằng một ý chí gọi là thiên mệnh. Quỷ thần là cái khí thiêng trong trời đất, người ta chỉ có thể tỏ lòng thành kính chứ không thể tìm hiểu được “phải kính quỷ thần nhưng xa ra”, Khổng Tử cho rằng người quân tử phải biết mệnh trời, phải sợ mệnh trời.

Đã có trời, Khổng Tử tin vào một cái thiên lý và dựa vào cái thiên lý đó mà vạch ra con đường cho người ta theo, tức là cái đạo của người quân tử. Tất cả sự giáo huấn của Khổng Tử chỉ nhằm đào tạo những người quân tử.

Muốn trở nên người quân tử, học trò trước hết phải học cái đạo làm người: “Người đệ tử vào thì hiếu, ra thì đễ, cẩn thận mà tin tưởng, yêu cả mọi người nhưng thân với người có nhân; làm được những điều ấy có thừa sức mới học văn”.

Khổng tử cho là muốn học đạo phải có trau dồi lòng “nhân”. Khổng Tử nói rằng: “Cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người; Cái gì mình muốn dựng thì dựng lên cho người, cái gì mình muốn đạt thì đạt cho người”. Theo Khổng Tử, chữ nhân có một ý nghĩa rất rộng lớn, cao xa, nó đứng đầu tất cả những cái đức của đạo làm người.

Chữ nhân của Khổng Tử có bao hàm tính chất tiến bộ, vì ông là đại diện cho giai cấp phong kiến mới trỗi dạy, phản ánh được những yêu cầu của những người dân tụ do mới thoát khỏi ách áp bức bóc lột của bọn chủ nô.

Nhưng muốn bồi dưỡng đức “nhân”, Khổng Tử dạy học trò phải sửa mình theo “lễ”, nghĩa là phải theo cái trật tự mới, cái trật tự của giai cấp địa chủ mới lên cầm quyền, cái trật tự duy trì sự bóc lột của giai cấp thống trị. Chính vì thế mà người sau đã phải than rằng: :Lễ giáo ăn người”.

Phương pháp giáo dục của Khổng Tử:

Khổng Tử quá nửa đời người làm nghề dạy học, cho nên tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong phương pháp giáo dục nói chung, dạy học nói riêng, trong đó có một số phương pháp cơ bản sau:

Phương pháp thân giáo (gương mẫu):

Có nghĩa là lấy bản thân mình làm tấm gương cho học sinh noi theo từ trong cách đi đứng, nói năng, học tập, sử sự, không cần nhiều lời. Vì vậy mà ông đã được học sinh ca ngợi hết lời, đặc biệt là những phẩm chất đạo đức đối với nghề dạy học. Ông tuyệt đối không có tính riêng tư, không có tính cố chấp, không có tính định kiến, không có tính thiên lệch (“Tử tuyệt tư, vô ý, vô cố, vô chấp, vô ngã”).

Ông luôn thể hiện sự tôn trọng người già, âu yếm trẻ nhỏ: “Lão giả yên tri, thiếu giả hoài chi”.

Trong học tập, học sinh ca ngợi ông: Học tập không biết chán, dạy học không biết mệt (“Học nhi bất yếm, hồi nhi bất quyện”). Tinh thần học tập của ông rất lạc quan: ăn cơm hẩm, uống nước lã vẫn vui học. Học sinh ca ngợi ví ông như mặt trời, mặt trăng, không có gì che lấp được.

Phương pháp gắn học với hành:

Khổng Tử yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức trong sách vở vào hoạt động xã hội.  Ông khẳng định rằng “học thuộc 300 thiên kinh thi, giao cho việc hành chính không làm được, giao cho việc đi sứ mà không đối đáp được, học nhiều như vậy cũng chẳng có ích gì”. Ông yêu cầu rất chặt chẽ là học phải gắn với hành.

Pháy huy trí lực độc lập suy nghĩ:

Dù là cách đây hơn 2000 năm nhưng Khổng Tử đã gợi mở ra phương pháp giáo dục và dạy học phải giúp cho học sinh suy nghĩ và biến sự suy nghĩ ấy thành nhu cầu bồi dưỡng thêm kiên thức của mình. Ông nói với học sinh: “Nếu không hỏi làm thế nào, làm thế nào thì ta cũng chẳng biết làm thế nào”. Và ông khẳng định ” Nếu không tức giận vì muốn biết thì không chỉ dẫn cho, nếu không bực mình vì muốn hiểu thì không giảng giải cho. Một vật có bốn góc đã chỉ cho một góc mà không suy ra được ba góc kia thì không dạy nữa”.

Phương pháp cá biệt hoá trong dạy học:

Điều đó có nghĩa là giảng dạy làm sao phải phù hợp với tâm lý, với việc phát triển tâm sinh lý, với từng đặc điểm cá biệt của học sinh. Khổng Tử dạy những lớp rất đông học sinh, nhiều trình độ và lứa tuổi khác nhau nhưng nhờ gần gũi với học sinh nên ông hiểu được những nét tính cách, đặc điểm của từng người. Vì vậy, tuy cùng một vấn đề nhưng ông căn cứ vào đặc điểm cá nhân mà trả lời mỗi người một cách khác nhau. Ví dụ Nhiễm Hữu hỏi: ” Nghe điều phải có làm ngay không thầy?”, Khổng Tử trả lời: “Sao lại không làm ngay?”. Nhưng Tử Lỗ cũng hỏi câu ấy thì ông trả lời: “Nhà có cha, có anh, tại sao nghe điều phải lại phải làm ngay?”. Lý do là bởi vì Nhiễm Hữu tính khí rụt rè, nhút nhát gặp điều gì cũng phải suy nghĩ, tư lự, không kiên quyết nên Khổng Tử thúc đẩy lên. Còn Tử Lỗ tính hiếu thắng, bộp chộp, quá cẩu thả, manh động nên ông phải kìm lại, yêu cầu về hỏi cha, anh đã rồi hãy làm.

Ngoài phương pháp cơ bản nêu trên, trong quá trình dạy học và giáo dục Khổng Tử còn nói đến phương pháp ôn tập thường xuyên, ôn cái cũ để biết cái mới (“ôn cố nhi tri tân”). Khổng Tử còn đề cập đến phương pháp học tập kiên trì, thường xuyên, giống như người đắp núi. Ông nói giữa đất bằng cứ một sọt, một sọt rồi một sọt…thì cũng thành, đồng thời ông còn nhấn mạnh gắn việc học với suy nghĩ ” Học mà không suy nghĩ thì vô ích, suy nghĩ mà không học thì mất công”.

Tóm lại: Theo nhà sử học Phạm Văn Lan (người Trung Quốc) đánh giá: Khổng Tử căn bản là một nhà đại giáo dục, suốt đời học không biết chán, dạy không biết mỏi, cho nên đã tích luỹ được những phương pháp giáo dục và dạy học rất sâu sắc, phông phú, đặc biệt là các phương pháp rèn luyện đạo đức, hành vi. Song do xuất phát từ tính giai cấp. do điều hiện dạy học còn hạn chế cho nên trong quan niệm giáo dục của Khổng Tử vẫn còn nhiều điều lạc hậu, chẳng hạn ông khẳng định “Giáo dục là của mọi người” (“Hữu giáo vô loại”), nhưng lại khẳng định: người hạ ngu dù có học hành cũng không thay đổi được vị trí hoặc cho việc học nghề nông là hèn mọn. Mặt khác, nhiều kiến giải của ông còn thiếu lôgic chặt chẽ cho nên các nhà Nho thời sau dễ dàng xuyên tạc, bóp méo, làm sai lệch những quan niệm của ông nhằm phục vụ lợi ích cho giai cấp thống trị trong xã hội phong kiến Trung Quốc suốt hàng nghìn năm.

This entry was posted in Chân Dung Nhà Giáo Dục. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s